Chương 1: Cơ sở khách quan của hợp tác kinh tế Việt Nam - ASEAN. - Chương 2: Thực trạng hợp tác kinh tế Việt Nam – ASEAN. - Chương 3: Tác động của hợp tác kinh tế Việt Nam – ASEAN tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHÁCH QUAN CỦA HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - ASEAN 1.1 Lý luận cơ bản về hợp tác kinh tế quốc tế.1 Những vấn đề chung về hợp tác kinh tế quốc tế.
Hợp tác kinh tế quốc tế là phương thức chủ yếu để thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế. Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những mối quan hệ (phân công, trao đổi, phối hợp, liên kết, bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau) một cách tự nguyện, chủ động, tích cực trong các hoạt động kinh tế giữa hai hay nhiều quốc gia và lãnh thổ mà ở đó các chủ thể tham gia cùng nhau chia sẻ những nguyên tắc, luật lệ và giá trị chung nhưng lại không mất đi bản sắc đặc trưng sẵn có của mình. Hợp tác kinh tế quốc tế được thực hiện dưới hình thức hợp tác song phương và hợp tác đa phương với nhiều nội dung như hợp tác sản xuất, hợp tác khoa học công nghệ, hợp tác thương mại, dịch vụ quốc tế. Xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế hiện nay đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế với những nội dung và hình thức hợp t ác phong phú, linh hoạt, mềm dẻo, năng động hơn.
Hợp tác kinh tế quốc tế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, là điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển. Hợp tác kinh tế quốc tế chỉ có thể tồn tại và phát triển khi nó tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền. Trong những thập niên gần đây, xu hướng hợp tác theo hướng khu vực hóa đang là xu hướng phổ biến đem lại hiệu quả đáng kể cho sự phát triển của các quốc gia. Sự hợp tác này trước hết bắt nguồn từ nhu cầu nội tại, từ sự đòi hỏi bên trong của mỗi nước, nhằm tạo ra một thực thể mới, một bản sắc riêng của khu vực, mà mỗi quốc gia thành viên cùng góp sức xây dựng và chia sẻ.
Thông thường, khi tham gia vào các liên kết kinh tế khu vực vị thế của các quốc gia thành viên trong cạnh tranh kinh tế được nâng lên rõ rệt. Mức độ tham gia vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung tùy thuộc vào trình độ phát triển và chính sách của từng quốc gia. Mục đích chung nhất của hợp tác kinh tế khu vực là các quốc gia hợp tác hỗ trợ nhau, từng bước xóa bỏ những cản trở thương mại tiến tới tự do hóa. 6 Những nỗ lực của họ biểu hiện sự di chuyển từng phần đến tự do hóa các nguồn lực (như vốn, lao động, hàng hóa, dịch vụ) giữa các nước thành viên.
Và, mỗi quốc gia cố gắng đạt được những lợi ích nhất định từ một khối kinh tế mà ở đó những cản trở về biên giới quốc gia đã được giảm đi đáng kể. Xu thế chung hiện nay, không chỉ đối với khu vực mà ngay trên bản đồ kinh tế thế giới thì các đường biên giới quốc gia cũng đang bị mờ dần. Sự vận động của hợp tác kinh tế quốc tế đang có sự thay đổi đáng kể cả về nội dung và hình thức. Hình thức hợp tác đa phương đang tăng lên cả về tuyệt đối lẫn tương đối so với hợp tác song phương.
Nếu như trước đây nhiều liên kết, hợp tác kinh tế được xuất phát từ những quan hệ chính trị thì hiện nay các quan hệ hợp tác kinh tế đang giảm dần sự can thiệp của chính trị là tương đối phổ biến. Tất nhiên, trong hợp tác đa phương với số lượng thành viên đông, tính mục tiêu, lợi ích… tương đối đa dạng nên nó thường mang tính phức tạp và có sự ràng buộc cao. Tùy vào mục tiêu phát triển mà mỗi quốc gia lựa chọn, đẩy mạnh hình thức hợp tác song phương hay đa phương. Đối với một số lĩnh vực cụ thể, khi mà hợp tác kinh tế đa phương bị ràng buộc phức tạp, ít hiệu quả thì người ta chọn hình thức hợp tác song phương như: các Hiệp định tự do thương mại xuyên châu lục được ký kết như giữa Singapo - Australia, Hàn Quốc - Chilê, Thái Lan - Ấn Độ, Thái Lan - Australia, Australia - Mỹ.
Các Hiệp định tự do thương mại này diễn ra cùng thời gian với hai lần thất bại mới nhất của WTO. Mặc dù phải nhượng bộ không ít trong các Hiệp định tự do mậu dịch song phương nhưng dường như các nền kin h tế châu Á đang coi đó là giải pháp để đảm bảo ổn định phát triển. Những cuộc đàm phán tay đôi về những lĩnh vực nhạy cảm này sẽ mở đường cho các vòng đàm phán đa phương và khu vực rộng mở hơn. Hợp tác kinh tế song phương vừa mang tính bổ sung cho hợp tác kinh tế đa phương nhưng đồng thời nó cũng chứa đựng những yếu tố mang tính nghịch gây ra cản trở nhất định cho tiến trình hợp tác đa phương.
Các nước nhỏ thường có khuynh hướng xuất phát từ các hợp tác song phương và lấy đó làm cơ sở phát triển, mở rộng và dựa vào các quan hệ hợp tác kinh tế đa phương (như AFTA, WTO) để nâng cao vị thế và gia tăng thế thương lượng của mình trong cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, khi mà nguồn lực dành cho phát triển đất nước còn hạn chế thì việc tạo điều 7 kiện cho những quan hệ hợp tác kinh tế song phương phát triển dù muốn hay không sẽ làm giảm nỗ lực cho việc thúc đẩy hợp tác kinh tế đa phương. Nhưng một quốc gia không thể chỉ dành ưu tiên tập trung cho một khuôn khổ hợp tác nào, trái lại phải đồng thời thực hiện sự hội nhập quốc tế trên nhiều cấp độ: song phương, khu vực và toàn cầu. Đây là sự kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi tích toàn thể, và điều quan trọng hơn là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, các nước cần có những bước đi phù hợp.
Hợp tác kinh tế song phương tuy có những lúc làm ảnh hưởng đến lộ trình chung, nhưng do hợp tác kinh tế song phương không đi ngược với tự do hóa và vẫn dựa trên các nguyên tắc hợp tác kinh tế đa phương, nên việc khắc phục khó khăn của vòng đàm phán đa phương bằng các hợp tác song phương trước mắt cũng là sự cần thiết, là giải pháp lách giữa dòng thương mại chật cứng để các nước thích ứng tốt nhất với các thay đổi của bối cảnh khu vực và quốc tế.2 Xu hướng vận động hiện nay của nền kinh tế thế giới.1 Toàn cầu hóa – khu vực hóa các hoạt động kinh tế thế giới đang là xu hướng phát triển phổ biến hiện nay. Thứ nhất, toàn cầu hóa - khu vực hóa kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ thương mại trên phạm vi thế giới. Việc gia tăng tốc độ buôn bán của thế giới là kết quả của tiến trình tự do hóa các chính sách thương mại được thực hiện ở hầu hết khắp các khu vực, các nước và được bổ sung mạnh mẽ bởi xu hướng tăng cường sự chu chuyển thương mại nội bộ tro ng các TNC. Thứ hai, trong nền kinh tế toàn cầu, quản lý vĩ mô dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trở thành yếu tố có tính chất quyết định tương lai phát triển của nó, đánh dấu sự phát triển toàn diện theo xu hướng mở và tự do hóa của nền kinh tế thế giới.
Thứ ba, tính tương thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia, các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính đều được gia tăng mạnh mẽ và bắt buộc mọi nền kinh tế đều tham gia vào một kiểu thị trường thế giới thống nhất – một “sân chơi chung” bình đẳng cho mọi nền kinh tế. 8 Thứ tư, trong nền kinh tế toàn cầu, quốc gia dân tộc có chủ quyền không còn là chủ thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thời của bốn chủ thể có thể đảm nhận vai trò này một cách hiệu quả. Đó l à: quốc gia dân tộc có chủ quyền, các khối kinh tế khu vực, các thể chế kinh tế quốc tế và các công ty xuyên quốc gia. Thứ năm, xu hướng khu vực hóa và hợp tác kinh tế quốc tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Về bản chất, xu hướng khu vực hóa và hợp tác kin h tế quốc tế là hiện thân của xu hướng tự do hóa về thương mại và đầu tư quốc tế và là những “vòng tròn đồng tâm” của tiến trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới. Với những đặc trưng trên, rõ ràng, toàn cầu hóa - khu vực hóa đang mở ra nhiều cơ hội cho mọi quốc gia dân tộc. Và đang trở thành tiền đề mang tính động lực cho sự phát triển của mỗi quốc gia.2 Xu hướng thị trường hóa nền kinh tế thế giới thúc đẩy kinh tế thị trường mở cửa ở tất các các nền kinh tế quốc gia. Các thị trường quốc gia và khu vực có xu hướng gắn liền vào quỹ đạo của thị trường thế giới và theo đó phạm vi, dung lượng, hiệu quả của thị trường thế giới không ngừng mở rộng với một kết cấu nhiều tầng.
Một số vấn đề nổi bật dưới đây cho thấy sự tác động mạnh mẽ của xu hướng này: + Tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ngày càng gắn liền với thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế vừa là đòn bẩy của tăng trưởng kinh tế, vừa là phương tiện để cung cấp các yếu tố đầu vào cho nền sản xuất. Tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới hiện đã cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới. Sự gia tăng này khẳng định vai trò của thương mại ngày càng lớn trong việc gắn kết mức tăng trưởng kinh tế giữa các nền kinh tế trên thế giới. + Sự gia tăng mạnh mẽ các luồng vốn đầu tư quốc tế và sự gắn kết chặt chẽ giữa thương mại và đầu tư quốc tế: Sự phát triển của giao lưu thương mại từ lâu đã đòi hỏi phải có sự phát triển của đầu tư quốc tế và phải dựa trên đầu tư quốc tế mới có hiệu quả.