Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 48% GDP và tạo ra 50,2% việc làm cho lực lượng lao động toàn quốc (thu hút hơn 5,13 triệu lao động vào năm 2011). Mặc dù giữ vai trò động lực tăng trưởng quan trọng, phần lớn các DNNVV luôn đối mặt với rào cản nghiêm trọng trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp và năng lực tài chính hạn chế. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn này, Chính phủ đã ban hành các chủ trương phát triển hệ thống bảo lãnh tín dụng thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và hệ thống Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP, Nghị định 56/2009/NĐ-CP và Quyết định 58/2013/QĐ-TTg.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và hiệu quả vận hành của hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013, chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế cố hữu và nguyên nhân gốc rễ. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát hệ thống 9 Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương đang hoạt động độc lập và toàn bộ mạng lưới chi nhánh của VDB trên 63 tỉnh, thành phố. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa hiệu quả trợ lực tài chính đối với hơn 500.000 DNNVV, đồng thời thiết lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm gia tăng tỷ lệ tiếp cận vốn vay và kiểm soát rủi ro trả nợ thay cho giai đoạn định hướng đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa Lý thuyết Bất đối xứng thông tin (Information Asymmetry Theory) của Stiglitz và Weiss và Lý thuyết Phân bổ hạn mức tín dụng (Credit Rationing Theory). Theo các khung lý thuyết này, các ngân hàng thương mại thường từ chối cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ do khoảng trống thông tin và rủi ro đạo đức, đòi hỏi phải có sự can thiệp của cơ chế bảo lãnh bên thứ ba nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Được định nghĩa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, phân loại thành 3 cấp độ (siêu nhỏ, nhỏ, vừa) dựa trên tiêu chí quy mô tổng nguồn vốn từ dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc số lượng lao động từ dưới 10 người đến 300 người tùy theo từng khu vực ngành nghề.
  2. Bảo lãnh tín dụng: Là cam kết bằng văn bản của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh theo quy định tại Điều 366 Bộ luật Dân sự nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đúng hạn.
  3. Tái bảo hiểm tín dụng: Cơ chế phân tán rủi ro thứ cấp giữa cơ quan bảo lãnh trung ương và các quỹ bảo lãnh cơ sở.

Luận văn cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế từ Quỹ Bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc (KCGF) với cơ chế trích 0,3% dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại để bổ sung vốn hoạt động (Nhà nước đóng góp trên 80% vốn), và Tập đoàn Tài chính Nhật Bản (JASME) với nghiệp vụ tái bảo hiểm tự động từ 70% đến 90% giá trị tổn thất cho các tổ chức bảo lãnh tín dụng địa phương (CGS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp định lượng và định tính cụ thể như thống kê mô tả, phân tích - tổng hợp và so sánh - đối chiếu chuỗi thời gian.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Tổng cục Thống kê, Cục Phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hệ thống báo cáo tổng kết thường niên của Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2013.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 9 Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương hoạt động độc lập (tổng vốn điều lệ đạt 449,852 tỷ đồng tính đến 31/12/2011), 6 Quỹ trực thuộc Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (vốn điều lệ 180 tỷ đồng), cùng tập mẫu 2.520 lượt hồ sơ DNNVV nộp đề nghị bảo lãnh tại VDB giai đoạn 2009 - 2011. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp với tổng điều tra thứ cấp được lựa chọn vì tính bao quát, phản ánh chính xác toàn bộ bức tranh tài chính và đo lường được quy mô can thiệp thực tế của Nhà nước vào thị trường tín dụng doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vốn của các Quỹ Bảo lãnh tín dụng địa phương đối với những doanh nghiệp đã tiếp cận được quỹ đạt mức tăng trưởng tích cực qua các năm: đạt 65,99% (năm 2009), tăng lên 69,67% (năm 2010) và đạt 71,04% (năm 2011), với tổng doanh số bảo lãnh năm 2011 đạt 976,18 tỷ đồng trên tổng nhu cầu vay 1.374,22 tỷ đồng. Tuy nhiên, quy mô hoạt động còn quá nhỏ bé khi chỉ có 9/63 tỉnh, thành phố lập được quỹ độc lập với tổng vốn điều lệ hạn hẹp là 449,852 tỷ đồng (riêng TP.HCM chiếm 196,172 tỷ đồng).

Thứ hai, hoạt động bảo lãnh tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng sau giai đoạn bùng nổ kích cầu năm 2009. Cụ thể, giá trị thông báo phát hành giảm mạnh từ 11.638,47 tỷ đồng năm 2009 xuống 3.649 tỷ đồng năm 2010 (giảm 68,65%), tiếp tục sụt giảm 99,20% xuống chỉ còn 29,14 tỷ đồng vào năm 2011. Số lượng chứng thư bảo lãnh phát hành rơi từ 1.117 chứng thư (năm 2009) xuống 405 chứng thư (năm 2010) và chỉ còn 14 chứng thư (năm 2011). Trong hai năm 2012 và 2013, VDB hoàn toàn không phát hành thêm chứng thư bảo lãnh mới nào (0 chứng thư).

Thứ ba, áp lực nghĩa vụ thực hiện trả nợ thay của bên bảo lãnh tăng cao rõ rệt. Năm 2010, VDB phát sinh nghĩa vụ trả nợ thay với số tiền 34,639 tỷ đồng. Đến ngày 31/12/2013, lũy kế đã có 65 chứng thư phát sinh nghĩa vụ trả nợ thay cho các ngân hàng thương mại với tổng số tiền nợ bắt buộc lên tới 264,139 tỷ đồng (gồm 220,171 tỷ đồng nợ gốc và 43,968 tỷ đồng nợ lãi) cùng 454.437 USD, trong khi tỷ lệ thu hồi nợ bắt buộc đạt rất thấp (năm 2011 chỉ thu hồi được 4,61 tỷ đồng).

Thảo luận kết quả

Diễn biến suy giảm mạnh của hoạt động bảo lãnh tại VDB được mô tả trực quan thông qua đồ thị đường kết hợp biểu đồ cột (Hình 2.2 và Hình 2.3 trong luận văn), thể hiện sự đứt gãy về quy mô vốn bảo lãnh khi chuyển từ cơ chế Quyết định 14/2009/QĐ-TTg sang Quyết định 03/2011/QĐ-TTg. Bảng thống kê chi tiết (Bảng 2.4) cũng làm rõ sự phân hóa sâu sắc giữa các địa phương, khi một số tỉnh như Vĩnh Phúc hay Bà Rịa - Vũng Tàu đạt tỷ lệ giải ngân bảo lãnh trên 85%, trong khi 6 quỹ ủy thác tại Hà Nội, Cần Thơ, Tây Ninh hoàn toàn đóng băng hoạt động.

Nguyên nhân cốt lõi khiến hoạt động bảo lãnh bị đình trệ xuất phát từ cơ chế bảo lãnh có điều kiện thiếu tính khả thi, gây tâm lý lo ngại rủi ro pháp lý cho các chi nhánh ngân hàng. Đồng thời, nguồn Quỹ dự phòng rủi ro bảo lãnh của VDB chậm được cấp bù (mãi đến tháng 3/2013 Bộ Tài chính mới bổ sung 250 tỷ đồng theo Quyết định 440/QĐ-BTC), buộc VDB phải siết chặt quy chế: chỉ bảo lãnh dự án sản xuất có vốn đầu tư tài sản cố định từ 1 tỷ đồng trở lên và loại bỏ hoàn toàn mảng kinh doanh thương mại, dịch vụ. So sánh với mô hình của Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam thiếu hẳn cơ chế tái bảo hiểm của Nhà nước và quy chế chia sẻ tổn thất công bằng giữa ngân hàng thương mại và tổ chức bảo lãnh, dẫn đến việc các ngân hàng thương mại không mặn mà tiếp nhận chứng thư bảo lãnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và thúc đẩy hoạt động bảo lãnh tín dụng cho DNNVV đến năm 2020, hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  1. Đối với tổ chức bảo lãnh (VDB và Quỹ BLTD địa phương):

    • Tái cấu trúc và chuẩn hóa quy trình thẩm định 5 bước, xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng độc lập (CRD) tương tự mô hình Nhật Bản để đánh giá chính xác rủi ro dự án.
    • Nâng tỷ lệ phê duyệt hồ sơ khả thi đạt mục tiêu 80% - 85% nhu cầu vốn tiếp cận, rút ngắn thời gian thẩm định từ 20 ngày xuống dưới 10 ngày làm việc trong giai đoạn 2015 - 2017.
  2. Đối với các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại):

    • Thiết lập thỏa thuận chia sẻ rủi ro bắt buộc theo tỷ lệ tổn thất 70:30 hoặc 80:20 (Bên bảo lãnh chịu 70% - 80%, NHTM chia sẻ 20% - 30% khi phát sinh rủi ro nợ xấu).
    • Mở rộng hợp tác liên kết cấp tín dụng bảo lãnh với tối thiểu 35 ngân hàng thương mại cổ phần lớn trên cả nước trước năm 2018.
  3. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bên được bảo lãnh):

    • Nâng cao tính minh bạch tài chính kế toán, thực hiện kiểm toán độc lập định kỳ hàng năm và cam kết duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu từ 15% đến 20% tổng mức đầu tư.
    • Hoàn thiện năng lực xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có dòng tiền khả thi trong giai đoạn 2016 - 2020.
  4. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước):

    • Thành lập Quỹ Tái bảo hiểm tín dụng quốc gia với quy mô vốn tối thiểu 2.000 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản cho các quỹ cơ sở khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay.
    • Hoàn thiện hướng dẫn thực thi Quyết định 58/2013/QĐ-TTg, chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí ngân sách nâng vốn điều lệ thực có của mỗi Quỹ BLTD địa phương đạt mức tối thiểu 100 tỷ đồng trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Sử dụng các căn cứ lý luận, dữ liệu thống kê và bài học thể chế để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới tài chính vi mô và quỹ bảo lãnh quốc gia.
  2. Ban lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ tại VDB và Quỹ BLTD địa phương: Ứng dụng quy trình thẩm định dự án, phương pháp quản trị danh mục bảo lãnh và quy chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro nhằm hạn chế phát sinh nợ bắt buộc.
  3. Khối Ngân hàng thương mại: Tham khảo mô hình hợp đồng hợp tác ba bên, tiêu chuẩn hóa nghiệp vụ quản lý khoản vay có bảo lãnh và quy chế xử lý tài sản bảo đảm.
  4. Chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hiệp hội ngành nghề và học viên cao học: Nắm vững điều kiện, trình tự 5 bước lập hồ sơ xin cấp chứng thư bảo lãnh tín dụng, đồng thời cung cấp tài liệu học thuật giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế và Tài chính - Ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao DNNVV Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của hoạt động bảo lãnh tín dụng?

Hơn 97% doanh nghiệp tại Việt Nam là DNNVV nhưng phần lớn có quy mô vốn dưới 20 tỷ đồng và thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn theo yêu cầu của ngân hàng thương mại. Bảo lãnh tín dụng đóng vai trò là "chứng chỉ tín nhiệm" thay thế tài sản bảo đảm, giúp doanh nghiệp khai thông dòng vốn để đóng góp vào 48% GDP quốc gia.

Quy trình thực hiện một nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng gồm những bước nào?

Quy trình chuẩn hóa gồm 5 bước logic: (1) Doanh nghiệp lập và gửi hồ sơ đề nghị; (2) Tổ chức bảo lãnh thẩm định dự án và tài sản bảo đảm; (3) Ký hợp đồng bảo lãnh và phát hành chứng thư bảo lãnh; (4) Doanh nghiệp nộp phí bảo lãnh theo quy định; (5) Giám sát thu hồi vốn và tất toán hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay.

Nguyên nhân chính khiến VDB ngừng phát hành chứng thư bảo lãnh mới trong năm 2012 và 2013 là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do số dư nợ bắt buộc phát sinh từ việc trả nợ thay tăng cao đạt 264,139 tỷ đồng tính đến năm 2013 trong khi Quỹ dự phòng rủi ro chậm được ngân sách cấp bù. Đồng thời, VDB thực hiện thắt chặt cơ chế thẩm định, chỉ nhận bảo lãnh dự án sản xuất có vốn tài sản cố định từ 1 tỷ đồng trở lên và loại trừ lĩnh vực thương mại.

Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình bảo lãnh tín dụng của Hàn Quốc và Nhật Bản?

Việt Nam có thể áp dụng cơ chế trích lập vốn bền vững từ 0,3% dư nợ cho vay của ngân hàng thương mại như Quỹ KCGF Hàn Quốc và triển khai mô hình tái bảo hiểm rủi ro tự động từ 70% đến 90% giá trị trả nợ thay thông qua một định chế tài chính trung ương tương tự như JASME của Nhật Bản.

Điều kiện tiên quyết để một DNNVV được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng là gì?

Doanh nghiệp phải có dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi chứng minh được nguồn trả nợ; có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 10% tổng mức vốn đầu tư của dự án; và không có nợ đọng thuế hay nợ quá hạn tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào tại thời điểm nộp hồ sơ thẩm định.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo lãnh tín dụng và làm rõ vai trò trụ cột của khối DNNVV (chiếm 97% số lượng doanh nghiệp) trong nền kinh tế thị trường.
  • Đánh giá thực chứng hoạt động của 9 Quỹ BLTD địa phương độc lập với tổng vốn 449,852 tỷ đồng và vai trò cung ứng hơn 10.695,5 tỷ đồng vốn bảo lãnh của VDB giai đoạn 2009 - 2011.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn nghiêm trọng khi VDB phải trả nợ thay 264,139 tỷ đồng tính đến năm 2013, dẫn đến việc đóng băng cấp chứng thư bảo lãnh mới trong giai đoạn 2012 - 2013.
  • Rút ra các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị về cơ chế tạo lập quỹ và tái bảo hiểm tín dụng từ các tổ chức tiên tiến như KCGF (Hàn Quốc) và JASME (Nhật Bản).
  • Hoàn thiện khung 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi với lộ trình cụ thể đến năm 2020 nhằm mở rộng quy mô vốn và kiểm soát an toàn tín dụng.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp hoàn thiện thể chế tài chính hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân. Các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp này nhằm khơi thông nguồn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập.