Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề chung về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 1. Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Công nghệ Cùng với các nguồn lực quan trọng như con người, tài nguyên thiên nhiên và và tài chính, công nghệ đã và đang trở thành một nguồn lực quan trọng trong rất nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng to lớn tới khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp làm ra.
Theo Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2006 của Việt Nam thì: - Công nghệ: là các giải pháp, quy trình, bí quyết (có gắn hoặc không gắn với công cụ, phương tiện) dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. - Bí quyết: là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ. Định nghĩa về công nghệ trên trong Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2006 của Việt Nam có ý nghĩa bao quát nhưng chưa thể hiện rõ các yếu tố nội hàm về công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ và các thành phần cơ bản của một công nghệ. Giáo trình quản trị công nghệ [12] đã giới thiệu một định nghĩa tương đối đầy đủ và cụ thể về công nghệ: “Công nghệ là việc sử dụng sáng tạo các loại công cụ, máy móc, tri thức và kỹ năng để biến đổi các yếu tố đầu vào thành 7 sản phẩm hay dịch vụ”.
Theo phương trình công nghệ trong giáo trình [12] thì công nghệ bao gồm 3 nhóm yếu tố là máy móc và công cụ (Machines & Tools = M); tri thức (Knowledge = K) và kỹ năng (Skills = S): CÔNG NGHỆ MÁY MÓC TRI THỨC KỸ NĂNG Technology (T) = Machines, Tools (M) + Knowledge (K) + Skills (S) Hình 1. Phương trình công nghệ Nguồn: Hoàng Đình Phi, 2006. - Thành phần M: là tất cả các thiết bị phần cứng của công nghệ như máy móc, thiết bị, công cụ… có gắn hoặc không gắn với đất đai, văn phòng, nhà xưởng, hệ thống sản xuất liên quan trực tiếp tới công nghệ. - Thành phần K: là tất cả các yếu tố liên quan tới tri thức trong công nghệ, bao gồm nhưng không giới hạn như: thiết kế, bản vẽ, bí quyết sản xuất, bí quyết kinh doanh, quy trình sản xuất, quy trình cung ứng dịch vụ… - Thành phần S: là tất cả các kỹ năng liên quan trực tiếp tới việc vận hành công nghệ để làm ra một sản phẩm hay cung ứng một dịch vụ.
Phương trình công nghệ được sử dụng như một công cụ lý thuyết cơ bản để tiếp cận với định nghĩa về công nghệ và để phân tích nhanh mối tương quan của các thành phần công nghệ khác nhau trong cùng một công nghệ hay các hệ thống công nghệ khác nhau. Đổi mới công nghệ Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for Economic Co-opration and Development) thì đổi mới công nghệ được xem là đổi mới sản phẩm, quy trình công nghệ và được định nghĩa như sau: 8 Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình sản xuất TPP (Technological Product and Process Innovation) bao gồm việc thực hiện sản phẩm và quy trình công nghệ, mang lại tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình. TPP tạo ra sản phẩm mới được thương mại hoá và quy trình công nghệ mới được sử dụng trong sản xuất. TPP có liên quan chặt chẽ, không tách rời với các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại.
Cẩm nang Olso cũng cung cấp định nghĩa liên quan đến TPP: - Sản phẩm mới về công nghệ là sản phẩm có các tính năng công nghệ hoặc công dụng đổi mới về cơ bản so với sản phẩm trước đó. Những đổi mới như vậy có thể coi là công nghệ mới hoặc tính năng sử dụng mới dựa trên công nghệ hiện có hoặc sử dụng tri thức mới. - Sản phẩm được cải thiện về công nghệ là sản phẩm có tính năng được nâng cao hoặc nâng cấp về cơ bản. Một sản phẩm được cải tiến (nâng cao các tính năng kỹ thuật hoặc giảm chi phí sản xuất) nhờ vào hoàn thiện các chi tiết, bộ phận cấu thành hoặc sử dụng vật liệu có đặc tính cao hơn.
- Đổi mới quy trình công nghệ là việc sử dụng các phương pháp sản xuất mới (kể cả phương pháp phân phối) hoặc được cải tiến cơ bản về công nghệ như: đổi mới thiết bị, tổ chức sản xuất và áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh so với các phương pháp trước đó. Theo sổ tay hướng dẫn của Oslo V3: Đổi mới công nghệ là một sự thực hiện hoặc cải tiến một sản phẩm hoặc dịch vụ mới, một phương pháp thị trường mới hoặc một phương pháp tổ chức doanh nghiệp mới, giải pháp mở rộng phát triển sản xuất cho ra sản phẩm mới. Giáo trình quản trị công nghệ [12] là tài liệu cập nhật mới nhất và đã đưa ra một khái niệm cụ thể: “đổi mới công nghệ được hiểu theo bản chất là việc 9 đổi mới các yếu tố cấu thành một công nghệ theo phương trình công nghệ, trong mối tương quan so sánh với công nghệ hiện có của doanh nghiệp hay đối thủ cạnh tranh trên thế giới. Đổi mới công nghệ liên quan tới việc nâng cao chất lượng các yếu tố cấu thành công nghệ và qua đó là mức độ hiện đại của một công nghệ”.
Mục tiêu của quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Về mục tiêu, đổi mới công nghệ chủ yếu tập trung vào việc đổi mới quy trình sản xuất hay chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm chế tạo ra sản phẩm mới, thay thế sản phẩm cũ, nâng cấp sản phẩm (nâng cao các tính năng kinh tế - kỹ thuật), phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, tăng thị phần, giảm chi phí sản xuất hoặc cải thiện điều kiện làm việc, giảm tác hại môi trường…, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Công tác đổi mới công nghệ liên quan trực tiếp tới các nhóm năng lực mua bán, vận hành công nghệ và năng lực sáng tạo công nghệ. Điều này được thể hiện qua hai mục tiêu chính là đổi mới thiết bị công nghệ cùng quy trình và đổi mới sản phẩm hay dịch vụ. Về nội dung cụ thể, đổi mới công nghệ thường được thực hiện qua các nhóm hoạt động cơ bản sau: - Cải tiến, nâng công suất, thay đổi quy trình quản trị, sản xuất, tiếp thị, ứng dụng phần mềm mới… để tiết kiệm thời gian và chi phí.
- Mua sắm máy móc, thiết bị mới theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh. - Cải tiến mẫu mã, bao bì, thay đổi thiết kế sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhóm khách hàng mục tiêu. Về phương pháp tiến hành, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp có thể được thực hiện thông qua một hay nhiều biện pháp sau: 10 - Phát triển và ứng dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật hay công nghệ của kỹ sư và công nhân viên. - Thực hiện các đề tài nghiên cứu và phát triển ở cấp độ cải tiến sản phẩm và quy trình.
- Mua máy móc và thiết bị mới kèm theo các hướng dẫn về quy trình sản xuất của bên bán. - Nhận chuyển giao công nghệ thiết kế, sản xuất, hay dịch vụ từ bên chuyển giao. - Mua cấp phép bản quyền (Licensing) các thiết kế, bí mật công nghệ. - Mua nhượng quyền kinh doanh (Franchising) kèm theo chuyển giao công nghệ.
Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được dùng để chỉ những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hay doanh thu. doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Mỗi nước đều có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tùy theo quy mô và mức độ phát triển của nền kinh tế. Một doanh nghiệp nhỏ ở Singapore có thể có quy mô lớn hơn một doanh nghiệp cỡ vừa ở Việt Nam về số vốn, lao động, công nghệ, thương hiệu, doanh thu. 11 Ở Việt Nam, theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).1 là phân loại cụ thể của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam theo các nhóm ngành.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Tổng Số lao Tổng Số lao Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động từ trên từ trên 20 I. Nông, lâm từ trên 10 200 10 người trở 20 tỷ đồng tỷ đồng nghiệp và thủy người đến người đến xuống trở xuống đến 100 tỷ sản 200 người 300 đồng người từ trên từ trên 20 từ trên 10 200 II.
Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng tỷ đồng người đến người đến và xây dựng xuống trở xuống đến 100 tỷ 200 người 300 đồng người từ trên 10 từ trên 50 từ trên 10 III. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng tỷ đồng người đến người đến và dịch vụ xuống trở xuống đến 50 tỷ 100 50 người đồng người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. - Nhìn chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa có một số đặc điểm: thiếu vốn, thiếu thông tin công nghệ và thông tin thị trường, thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thiếu cơ hội tiếp xúc, nắm bắt công 12 nghệ mới, thiếu cơ hội hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ bên ngoài… 1.