phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chƣơng, năm tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. Những điều kiện cho sự hình thành tƣ tƣởng của Ngô Thì Nhậm 1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII Xã hội Việt Nam vào giai đoạn thế kỷ XVI - XVIII đầy những biến động thăng trầm.
Sự bất ổn về chính trị dẫn đến có những sự xáo trộn về cơ cấu tầng lớp trong xã hội và kinh tế thì không có tính ổn định lâu dài. Triều Lê sơ từ khi giành đƣợc độc lập khỏi ách thống trị nhà Minh đầu thế kỷ XV, đã bị nhà Mạc lật đổ vào thế kỷ XVI. Việc nhà Mạc thay thế nhà Lê đã tạo ra những phản ứng trong giới Nho sĩ Việt lúc bấy giờ. Trong khoảng thời gian nhà Mạc cai trị đất nƣớc, Nguyễn Kim rồi đến Trịnh Kiểm dấy cờ khởi nghĩa Trung Hƣng lập lên Nam triều ở vùng Thanh Hóa chống lại thế lực Bắc triều.
Do có danh nghĩa chính thống nhà Lê nên uy tín của Nam triều ngày càng tăng mạnh,đã lôi kéo đƣợc đông đảo nho sĩ từ bỏ nhà Mạc về với danh nghĩa nhà Lê. Chính sách của triều đình nhà Mạc trải qua nhiều đời vua cũng không thể đem lại kết quả có lợi cho họ, thêm vào đó càng về sau nhà Mạc càng tỏ ra không quan tâm đến đất nƣớc, từ chỗ giành thế chủ động so với Nam triều dần đánh mất sự chủ động dẫn đến sự suy yếu và thất bại hoàn toàn so với Nam triều. Khi mà nền quân chủ tập quyền trên một đất nƣớc thống nhất bị phá vỡ, với cục diện Trịnh- Nguyễn phân tranh, sự chia cắt lãnh thổ đàng Ngoài và đàng Trong thì tƣ tƣởng chính trị có những điều mới mẻ với thể chế vua Lê- chúa Trịnh. Hệ thống chính trị ở đàng Ngoài hình thành với “thể chế Vua Lê – Chúa Trịnh mà thực quyền nằm trong tay phủ chúa” [46, tr.Ở thế kỷ XVII, thời kỳ “chúa Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn biết lo trị dân, lại nhờ có những tôi giỏi nhƣ Phạm Công Trứ, Nguyễn Công Hãng hết lòng phò tá, sửa sang việc, nƣớc đƣợc yên” [50, tr.
Xã hội 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đàng Ngoài sang đến thế kỷ XVIII, đã thể hiện sự khủng hoảng trầm trọng, với những cuộc khởi nghĩa nông dân nổi dậy ở khắp mọi nơi, có quy mô rộng lớn. Ở đàng Trong, thế kỷ XVII chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng diện tích lãnh thổ về phía Nam. Họ Nguyễn đã làm chủ một vùng đất rộng lớn từ nam dải Hoành Sơn cho đến mũi Cà Mau. Nhƣng từ giữa thế kỷ XVIII, sự bóc lột nặng nề của quan lại đối với ngƣời nông dân đã đẩy xã hội vào suy thoái nghiêm trọng.
Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nền kinh tế của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam có những bƣớc phát triển, trong đó có sự nảy sinh của yếu tố kinh tế thị trƣờng tƣ bản từ phƣơng Đông và phƣơng Tây tới. Mặc dù đó chỉ là mầm mống, manh nha nhƣng nó là yếu tố mới mang tính độc lập. Sự xuất hiện yếu tố này là do tình trạng chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nƣớc quân chủ chuyên chế với sự bảo lƣu lâu dài của tàn dƣ công xã nông thôn. Cùng với đó, chiến tranh liên miên đã đƣa đất nƣớc ở cả hai miền rơi vào khủng hoảng trầm trọng và khi đó nhà nƣớc đẩy mạnh bóc lột hơn nữa đối với nông dân nên đã tạo ra một bƣớc cản lớn đối với sự chuyển mình của kinh tế.
Tình hình nông nghiệp ở Đàng Ngoài đƣợc chú ý tới nhất đó là vấn đề ruộng đất. Ruộng đất công phần lớn rơi vào tay địa chủ cƣờng hào, ruộng đất tƣ hữu đã phát triển cao độ, “việc mua bán ruộng đất, kiện tụng về ruộng đất luôn luôn là chuyện rắc rối ở làng xã” [46, tr. Thiên tai, nạn đói đã trở thành điều kiện của việc mở rộng diện tích đất tƣ. Ở Đàng Ngoài, sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất làng xã, là nét đặc sắc tình hình nông nghiệp ở giai đoạn này.
Sự phát triển của chế độ sở hữu tƣ nhân về ruộng đất dẫn đến sự thay đổi chế độ thuế, khi tất cả các loại ruộng đất tƣ, ruộng làng xã đều phải chịu thuế. Ở Đàng Trong, đất đai khá rộng lớn từ phía nam sông Gianh đến mũi Cà Mau. Bên cạnh ruộng công làng xã có loại ruộng gọi là quan điền trang và quan đồn điền. Dù có chữ quan đứng đầu nhƣng loại ruộng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này không phải là ruộng nhà nƣớc mà thực chất là ruộng tƣ của chúa.
Cũng nhƣ ở Đàng Ngoài, tệ chiếm công vi tƣ ngày càng phát triển, đến mức vào giữa thế kỷ XVIII, nhiều ngƣời nông dân không có nổi một tấc đất, phải bỏ nhà đi phiêu tán. Những vùng đất xuôi về phía nam mới đƣợc khai hoang thì chúa Nguyễn nhanh chóng đƣa vào quản lý. Đất đai ở đàng Trong vì mới đƣợc khai hoang nên rất màu mỡ, phì nhiêu vì thế nên nông nghiệp ở đàng Trong rất phát triển. Một điều đặc biệt trong sự phát triển ruộng đất ở đàng Trong đó chính là những ngƣời nông dân bị bần cùng hóa có thể tìm đến những vùng đất khai hoang mới, ít nhiều đã giải quyết đƣợc sự tự do, cuộc sống của họ.
Điều này lí giải vì sao “cuộc khủng hoảng xã hội ở Đàng Trong đến muộn hơn so với Đàng Ngoài” [46, tr. Xã hội nƣớc ta ở thời kỳ này xuất hiện nhiều ngành nghề mới phát triển. Ở châu Âu, lúc này đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, chính vì thế nhu cầu cần giao lƣu buôn bán là nhu cầu tất yếu nên có sự tác động mạnh mẽ đến xã hội Đại Việt lúc đó. Ngành thủ công nghiệp của cả hai Đàng Trong và Đàng Ngoài đều đẩy mạnh, thành lập nhiều xƣởng đóng thuyền, sản xuất nhiều loại vũ khí.
Những ngành nghề thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở trong nhân dân với nhiều loại hình khác nhau nhƣ nghề làm gốm, kéo tơ, dệt lụa, làm đƣờng, rèn, làm giấy … xuất hiện phân bố rải rác cả ở hai Đàng. Sự phát triển của làng nghề thủ công từ những cơ sở nhỏ bé cho đến những nơi sản xuất quy mô lớn là cả một quá trình phát triển lâu dài. Nó cần rất nhiều yếu tố động lực để phát triển nhƣ sự tích lũy vốn, của cải lâu dần theo thời gian, kỹ thuật sản xuất, sự sáng tạo của các cá nhân để tạo nên những sản phẩm. Ở Đàng ngoài, có “các làng nghề và cụm làng nghề nổi tiếng là vùng Bƣởi ven đô Thăng Long làm giấy nhƣ làng Phù Định, Yên Thái, làng Châu Khê ( Bắc Ninh).
Ngƣời ta sản xuất các loại giấy khác nhau nhƣ giấy lệnh, giấy trung, giấy vàng, giấy thanh dƣơng…. Cụm làng La dệt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vải, các làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng. Cụm các làng đúc đồng Đề Cầu và Đại Bái, đúc bạc và làm đồ bạc nhƣ Châu Khê và Đồng Xâm. Cụm làng nghề ở Quất Động, Đào Xá, Văn Lâm….
Ở Đàng trong có “nghề gốm Phƣớc Tích (Phú Xuân), Biên Hòa, nghề rèn ở Hiền Lƣơng, nghề dệt ở Hƣơng Trà, Điện Bà, Tân Châu”[61, tr. Sự phát triển làng nghề thủ công nghiệp trong giai đoạn này xuất phát từ các làng xã nông thôn, lúc đầu là kết hợp, sau đó trở thành chuyên nghiệp. Lâu dần hàng hóa, sản phẩm của các làng nghề đƣợc buôn bán ở khắp mọi nơi, kinh tế đƣợc mở rộng. Từ vùng nông thôn, hàng hóa đã xâm nhập nhanh chóng vào các đô thị.
“Nhìn chung, thủ công nghiệp nhân dân ở các thế kỷ XVII – XVIII vừa mở rộng, vừa phát triển ở một mức độ nhất định nhu cầu của nhân dân trong nƣớc và nhu cầu của thƣơng nhân nƣớc ngoài, đi sâu hơn vào nền kinh tế thị trƣờng có tính quốc tế” [46, tr. Sang thế kỷ XVII, thƣơng nghiệp ngày càng phát triển mạnh, giao lƣu buôn bán tấp nập ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Buôn bán trong nƣớc thì nhộn nhịp, chợ đƣợc mọc lên ở khắp mọi nơi, hầu nhƣ mỗi làng đều có chợ hoặc các cụm làng chia phiên trong tuần đầu để họp chợ. Nhƣng hình thức, mặt hàng buôn bán ở trong nƣớc hết sức đa dạng “gạo, muối, hải sản, thuốc lào, bát đũa ấm chén, vải vóc tơ lụa” [46, tr.
373] và có sự buôn bán giữa cả hai Đàng. “Tại các địa phƣơng, các chợ đƣợc dựng nên tại mỗi xã hay một nhóm xã, để tiện việc mua bán, giao lƣu hàng hóa. Việc vận tải hàng thƣờng dùng là thuyền trên sông ngòi” [50, tr. Trong thời kỳ này, buôn bán trong nƣớc xuất hiện một hiện tƣợng đặc biệt đó sự hình thành của các làng buôn.
Nó thể hiện sự chuyên môn hóa và buôn bán nội thƣơng cũng đƣợc phát triển nâng tầm một cách đáng kể. Thƣơng nghiệp ở giai đoạn này, phát triển phải kể đến sự giao lƣu buôn bán với các thƣơng gia nƣớc ngoài. Các thƣơng nhân chủ yếu đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh và Hà Lan. Ở Đàng Ngoài, việc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buôn bán với các thƣơng nhân nƣớc ngoài chủ yếu diễn ra ở thƣơng điếm Phố Hiến (Hƣng Yên), với các mặt hàng phong phú đa dạng từ khắp các nƣớc mang tới.
Ở Đàng Trong chúa Nguyễn mở cửa Hội An, thƣơng cảng lớn và vô cùng sầm uất. “Thƣơng thuyền các nƣớc Âu châu khác đi đến mua bán cũng nhiều. Ngƣời Âu gọi Đàng Trong là nƣớc Quảng Nam”[50, tr. Rõ ràng việc buôn bán với các thƣơng nhân nƣớc ngoài không chỉ tạo ra những con phố buôn bán đông đúc mà còn tạo ra một tầng lớp có của cải do buôn bán mang lại.
Các nhà buôn giàu có trong nƣớc ngày càng khẳng định vị trí của mình trong xã hội và tạo ra những nếp sống quan cách, hàng phố. Thêm vào đó là sự tiếp xúc kinh tế, văn hóa với các luồng giao thƣơng quan trọng Bắc Nam và Tây Đông đã là những nhân tố ngoại sinh kích thích nền kinh tế hàng hóa đô thị phát triển. Sự hứng khởi đô thị ở Việt Nam trong thế kỷ XVII, bao gồm cả một mạng lƣới đô thị ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đô thị hầu hết nằm ở những nơi có vị trí thuận lợi nhƣ dọc con sông, nơi có đầu mối giao thông thuận tiện.