chương 1, Giới thiệu về Giới luật; chương 2, Giới của TK và TKN; chương 3, Sự khác biệt giữa giới TK và TKN; chương 4, Quan điểm của phụ nữ trong Phật giáo từ sự so sánh Giới luật. Thông qua bốn chƣơng, tác giả phân tích cho thấy sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới, nhƣ sự khác biệt về thể chất, các thói quen tâm lý và các vai trò xã hội khác nhau; quan điểm của Đức Phật cho rằng phụ nữ có các tập khí nhiều hơn so với nam nhân. Vì lý do này, một số ngƣời tƣ tƣởng bảo thủ nghĩ rằng Đức Phật đã phân biệt đối xử với phụ nữ. Tuy nhiên, quan điểm của Đức Phật đối với phụ nữ dựa trên sự thật chứng đắc về tâm linh, không phải là mẫu số chung về một 11 số khuyết điểm.
Từ quan điểm này, so sánh trên giới luật giữa TK và TKN có sự khác biệt về số lƣợng giới không phải vì thiên vị, mà để tùy vào căn cơ, biệt nghiệp của từng giới mà Đức Phật chế định. Vì rằng, các giới luật đƣợc hình thành từ những hành vi sai trái của TK, TKN nên rất thực tế. Tác giả Ellison Banks Findly (2011), “Phật giáo và nữ giới, nữ giới và Phật giáo: Truyền thống, cải cách, phục hồi”, Nxb. Phƣơng Đông [100].
Chƣơng đầu đề cập đến sự thọ giới, hệ phái và mối liên hệ với tăng đoàn của ni giới Thái Lan và Tây phƣơng, lập luận về vấn đề giới luật Ni nhiều hơn Tăng, tác giả cho biết việc giữ giới nhiều không có sự trở ngại mà giúp cho ngƣời giữ giới dễ sanh chánh niệm, sự tăng trƣởng chánh nhiệm giúp ích cho việc tu tập thăng hoa hơn. Tác giả Karma Lekshe Tsomo (biên soạn), TN. Diệu Nghiêm (dịch, 2009), Ra khỏi bóng tối - Nữ giới Phật giáo dấn thân xã hội, Nxb. Công trình này tổng hợp nhiều bài của các tác giả nữ Phật giáo trên toàn cầu từ Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 1 (1987) đến Hội nghị lần thứ 10 (2008), tập trung về vấn đề nữ giới Phật giáo xƣa - nay, nói lên sự nỗ lực chung tay của nữ giới Phật giáo trong tu tập cho đến hoằng pháp.
Vấn đề lãnh thọ TKN PGNT cũng đƣợc đề cập để nữ giới Phật giáo có cơ hội hoàn tất việc tự lợi, dấn thân vào việc lợi tha. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đã in thành sách hay những bài nghiên cứu dƣới dạng phác thảo ý tƣởng của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc, tập hợp thành những tƣ liệu có giá trị học thuật mang tính khoa học, giúp chúng tôi xác định đƣợc những vấn đề cơ bản nhất, tạo cơ sở thuận lợi cho luận văn triển khai hƣớng đi mới của đề tài. Điểm lại nội dung chính mà các tác giả trên đã trình bày, cho thấy sự xuất hiện của Nữ giới trong Phật giáo là một “đặc ân” lớn so với các tôn giáo khác, việc thực thi Giới luật, thực hành Tám trọng pháp là điều hết sức cần thiết cho mỗi cá nhân nữ tu sĩ Phật giáo. Bên cạnh đó, một số công trình 12 nghiên cứu căn cứ vào “Tám trọng pháp” để chứng minh vai trò, vị trí của nữ giới trong giáo lý Đức Phật, nhằm thể hiện tầm quan trọng của nữ giới, đồng thời muốn san bằng quan niệm bất bình đẳng giới.
Tại sao những vấn đề “đòi quyền lợi cho nữ giới Phật giáo” luôn đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm, trong khi bản thân Phật giáo luôn nêu cao tinh thần bình đẳng toàn diện? Vấn đề đƣợc đặt ra, vì rằng: “Trong hầu hết các quốc gia theo truyền thống PGNT, phụ nữ chỉ được phép xuất gia với một vị trí rất khiêm tốn và lệ thuộc” [99, tr.8], nên việc phục hồi quyền lợi đã đƣợc Đức Phật xác lập từ khi nữ giới có mặt trong Tăng đoàn là điều cần thiết. Tuy nhiên, mỗi quốc gia, mỗi ý thức hệ khác nhau, việc thực tế hóa sự việc tại một quốc gia cụ thể là điều cần thiết cho việc nghiên cứu. Luận văn này là một trƣờng hợp cụ thể, để thực tế hóa việc “công nhận TKN PGNT”. Chúng tôi tập trung nghiên cứu dựa trên những căn cứ lịch sử, tập hợp những tƣ liệu đƣơng thời, phỏng vấn sâu những nhân vật có tầm ảnh hƣởng đến quá trình tu tập và quản lý trong cộng đồng TNPGNT, tiếp nhận những thuận lợi, khó khăn và nguyện vọng của Tu nữ, qua đó đúc kết những vấn đề về tu tập của TNPGNT Kinh hiện nay, từ đó đề ra những kiến nghị cần thiết cho quá trình tu tập của Tu nữ hiện nay và việc phục hoạt hình ảnh TKN PGNT tại Việt Nam.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích Luận văn nghiên cứu, phân tích đời sống tu tập của TNPGNT Kinh hiện nay. Đƣa ra một số khuyến nghị nhằm mục đích giữ gìn và phát huy hình thức tu tập của Tu nữ của hệ phái Nam tông Kinh trong bối cảnh hiện nay. Nhiệm vụ Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: - Tổng quan về lịch sử hình thành Ni đoàn Phật giáo Nam tông.
- Khảo cứu thực trạng tu tập của Tu nữ Phật giáo Nam tông Kinh hiện nay. 13 - Đƣa ra một số nhận xét và khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả tu tập của Tu nữ Nam tông Kinh. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tu nữ Phật giáo Nam Tông Kinh. Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn khảo sát về TNPGNT Kinh tại ba chùa: Chùa Bửu Long (Thành phố Hồ Chí Minh), Ni viện Viên Không (Bà Rịa - Vũng Tàu), Chùa Nhƣ Pháp (Làng Cái Đôi - Vĩnh Long).
Đây là ba chùa tiêu biểu ở ba khu vực khác nhau và có những điểm đặc thù mang dấu ấn lịch sử: Chùa Bửu Long- hình ảnh Tu nữ đầu tiên tại Việt Nam; Ni viện Viên Không - hình ảnh TKN đầu tiên tại Việt Nam; Chùa Nhƣ Pháp - hình ảnh Tu nữ trẻ đầu tiên ở miền Tây Nam bộ. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài nghiên cứu về truyền thống tu tập của Tu nữ trong giai đoạn hiện nay, đƣợc tính từ khi Hội Phật giáo Nguyên thủy trở thành một thành viên của GHPGVN từ năm 1981 cho đến nay. Tuy nhiên, để đề tài mang tính hệ thống, chúng tôi cũng khái quát về những vấn đề liên quan trƣớc mốc thời gian năm 1981. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.
Cơ sở lý luận Tôn giáo là một thực thể xã hội tồn tại khách quan, chúng luôn hiện hữu trong bản chất ngƣời của từng cá nhân và là một phần của xã hội. Vì thế, khi soi chiếu về đối tƣợng hay khách thể trên nền tảng tôn giáo học, theo TS. Nguyễn Quốc Tuấn gọi là Lý thuyết thực thể tôn giáo, nghiên cứu về một thực thể xã hội khách quan đƣợc khu trú trên ba khu vực nhận thức: Khu vực nhận thức tôn giáo; Khu vực nhận thức khoa học; Khu vực nhận thức quan phương.3-15] Luận văn vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để soi chiếu đối tƣợng nghiên cứu thông qua những nét cơ bản nhƣ sau: 14 Khu vực nhận thức tôn giáo: Đƣợc cấu thành ít nhất ba thành tố cốt lõi của thực thể tôn giáo: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo. Niềm tin tôn giáo: Niềm tin Phật giáo luôn thể hiện qua ba khía cạnh Phật, Pháp và Tăng cho dù Phật giáo có truyền sang bất kỳ nƣớc nào, dân tộc nào, niềm tin vào Tam Bảo vẫn không thay đổi.
Niềm tin trong luận văn đƣợc khảo sát vào sự y cứ theo Tam tạng để tu tập, ngƣời thể nghiệm chân lý không ai khác chính là Tu nữ, để không đi sai lệch tôn chỉ của Đức Phật. Thực hành tôn giáo: Sau khi xác lập niềm tin tôn giáo, đây chỉ là điều kiện “cần” nhƣng chƣa gọi là “đủ”. Tiến thêm bƣớc nữa phải vận dụng niềm tin tôn giáo nhƣ là một công cụ hợp lý hóa, để thẩm định niềm tin vào thế giới thiêng. Mỗi tôn giáo đều có hệ thống thực hành riêng, yếu tố này hết sức quan trọng vì rằng đây là huyết mạch để nuôi sống thực thể tôn giáo.
Luận văn thể hiện rất rõ cốt lõi này, có hai loại thực hành chủ yếu: Thứ nhất, thực hành tôn giáo thuần túy tức là tất cả các hoạt động tu tập, sinh hoạt của các Tu nữ để duy trì nếp sinh hoạt truyền thống thiền môn. Thứ hai, thực hành tôn giáo hƣớng đến xã hội, tức là những hoạt động từ cơ cấu tổ chức cho đến các nghi thức tu tập để đáp ứng nhu cầu tâm linh cho tín đồ. Cộng đồng tôn giáo: Khi đã có niềm tin làm nền tảng thì việc thực hành là cách thức gắn kết từ tôn giáo với con ngƣời và tạo nên một cộng đồng cùng một niềm tin, thực hành tôn giáo. Luận văn thể hiện sự gắn kết không chỉ từng cá nhân Tu nữ, Tu nữ với tín đồ có độ cộng cảm tƣơng quan mà còn hình thành nên một cộng đồng các Tu nữ đang tu tập tại ba Ni viện khảo sát, cộng đồng Tu nữ tại Việt Nam, cộng đồng Ni giới Việt Nam… Yếu tố cộng đồng cố kết những Tu nữ có cùng niềm tin, thực hành theo PGNT, tạo nên vị thế, sức mạnh cộng đồng của Tu nữ thể hiện rõ qua cơ cấu tổ chức các tự viện, tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong ba thành tố trên, mỗi thành tố đều có vai trò quan trọng để định hình đƣờng hƣớng cho luận văn, đó sẽ là quy chuẩn quan trọng để việc triển 15 khai luận văn theo đúng góc nhìn Tôn giáo học và đƣợc vận dụng xuyên suốt cho luận văn. Khu vực nhận thức khoa học: Để soi chiếu thực thể tôn giáo mang tính khoa học cần phải vận dụng kiến thức về các môn khoa học để thẩm định hệ thống hóa thực thể thông qua các mối quan hệ của con ngƣời với thế giới thiêng, tôn giáo với xã hội một cách khoa học nhất. Trong luận văn, chúng tôi vận dụng các môn khoa học gần nhất nhƣ xã hội học để khảo sát chất lƣợng tu tập, phỏng vấn sâu; vận dụng tâm lý học để cảm nhận những sắc thái tâm thức trong quá trình thực hành; vận dụng văn hóa học để thấy những nét văn hóa truyền thống của PGNT và nét văn hóa hòa nhập với dân tộc… Khu vực nhận thức quan phương: Bất kỳ tôn giáo nào muốn phát triển vững mạnh thì tôn giáo đó phải có sự tƣơng tác tốt với khu vực quan phƣơng.