Chương 1. Khái quát về tư sản Việt Nam và phong trào dân tộc dân chủ trong 30 năm đầu thế kỷ XX (21 trang). - Chương 2: Hoạt động của tư sản Việt Nam trong phong trào dân tộc dân chủ 30 năm đầu thế kỷ XX (44 trang). - Chương 3: Vai trò của tư sản Việt Nam trong phong trào dân tộc dân chủ 30 năm đầu thế kỷ XX (23 trang).
KHÁI QUÁT VỀ TƯ SẢN VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ TRONG 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Quá trình ra đời và phát triển của tư sản Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX 1. Quá trình ra đời tư sản Việt Nam 1. Điều kiện lịch sử cho sự ra đời của tư sản Việt Nam * Điều kiện quốc tế Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chứng kiến những biến động lớn.
Chủ nghĩa tư bản xác lập hệ thống và đang chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân hiện đại ra đời và bành trướng phạm vi toàn thế giới. Làn sóng xâm thực của chủ nghĩa tư bản phương Tây dẫn đến sự chuyển biến trong cơ cấu và cơ chế vận hành của nền kinh tế các nước bản địa. Ở Đông Á và Đông Nam Á - nơi đang nằm dưới sự thống trị của thực dân phương Tây, kinh tế tư bản chủ nghĩa nảy sinh và phát triển, dẫn đến sự ra đời của giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản đến lượt nó tiến hành cuộc vận động nhằm đánh đuổi thế lực xâm lược, giải phóng dân tộc.
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây cơ bản hoàn thành việc xác lập hệ thống thuộc địa ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Hệ quả của quá trình này biến số phận các dân tộc ở những khu vực này trở thành nước thuộc địa hoặc nửa thuộc địa. Các dân tộc châu Á vẫn tồn tại mô hình chế độ phong kiến đang trên đà khủng hoảng, lỗi thời, lạc hậu. Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ, một trật tự xã hội mới và một nền văn minh khai phóng, mô hình phát triển này phủ địnhchế độ phong kiến ở các nước phương Đông.
Chính sách thống trị của thực dân phương Tây tạo ra một xung lực khách quan tác động mạnh mẽ tới cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế bản địa. Đó chính là điều kiện, khuynh hướng để xã hội phương Đông hội nhập vào xu thế phát triển của thế giới. Chính sách cai trị và bóc lột của tư bản phương Tây làm biến đổi cơ cấu kinh tế truyền thống của các quốc 8 giaChâu Á, hình thành nên nhiều ngành kinh tế mới. Có thể nói, quá trình khai thác, bóc lột các thuộc địa của tư bản thực dân phương Tây tạo ra những điều kiện cơ bản để giai cấp tư sản ở các nước thuộc địa ra đời.
Các nước Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản,Philippines, Indonesia, Malaysia. giai cấp tư sản cũng lần lượt ra đời. Cuộc vận động phát triển kinh tế dân tộc và chống thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc ở các nước này diễn ra rầm rộ dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản dân tộc. Những biến chuyển mang tính thời đại của tình hình thế giới và khu vực ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.
Đặc biệt khi nước ta có những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế - xã hội dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Hệ quả quan trọng của cuộc khai thác thuộc địa là làm phá vỡ nền kinh tế cổ truyền mang tính tự cấp, tự túc, thúc đẩy mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển. * Điều kiện trong nước Điều kiện đầu tiên để nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát sinh là sản xuất hàng hóa và trao đổi trên thị trường phải đạt đến mức độ nhất định, khitư bản tập trung vào tay một số người và phân hóa xã hội sâu sắc tạo nên tầng lớp lao động làm thuê. Trong bối cảnh xã hội phong kiến, nền kinh tế Việt Nam còn mang nặng tính tự cấp tự túc.
Nền tảng kinh tế - xã hội là nông nghiệp nhưng ngày càng sa sút, công - thương nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa ở nước ta chưa xuất hiện những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trước khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta thì những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện với nền sản xuất hàng hóa có bước phát triển và hoạt động lưu thông, trao đổi hàng hóa trên thị trường được đẩy mạnh. Từ khi tiến hành xâm lược Việt Nam (1858) đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tìm mọi biện pháp để độc chiếm thị trường Việt Nam, ngăn cản sự phát triển nền kinh tế công - thương nghiệp bản xứ.
Dưới tác động khách quan của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), nền kinh tế 9 công - thương nghiệp Việt Nam mặc dù bị cản trở sự phát triển nhưng có bước tiến hơn so với trước đây. Bước tiến đó biểu hiện rõ trong việc mở rộng nền sản xuất hàng hóa theo lối tư bản chủ nghĩa, các hoạt động lưu thông, trao đổi hàng hóa trên thị trường được đẩy mạnh. Cùng với đó là hệ thống giao thông phát triển khắp cả nước tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa diễn ra mạnh mẽ, nhất là hàng hóa xuất cảng phát triển mạnh.Việc tăng dần số lượng thợ thủ công chuyên nghiệp và tầng lớp thương nhân ở thành thị chứng tỏ nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh hơn, thúc đẩy mầm mống của chủ nghĩa tư bản tiếp tục nảy sinh và phát triển. Đây chính là điều kiện nội sinh cho sự ra đời của tư sản Việt Nam.
Về xã hội, trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, ở Việt Nam xuất hiện tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ. Khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Việt Nam, dưới tác động khách quan của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường trong nước được mở rộng, kinh tế phong kiến bị cuốn vào kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong điều kiện đó làm cho sự phân hóa trong lực lượng tiểu thương, tiểu chủ diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Một số người giàu lên và trở thành các chủ xưởng, chuyên thuê người sản xuất và một bộ phận khác bị phá sản chuyên đi làm thuê cho các chủ xưởng.
Vai trò của thương nhân ngày càng trở nên quan trọng. Từ vai trò trung gian giữa những người sản xuất hàng hóa ở địa phương, nhiều thương nhân và hội buôn tiến lên thành chủ bao mua, làm phá sản nhiều người tiểu sản xuất, trở thành chủ xí nghiệp. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có những thương nhân hoạt động trên phạm vi thị trường khá rộng. Sau khi hoàn thành “sự nghiệp chinh phục Việt Nam”, Toàn quyền Đông Dương ban hành nhiều Nghị định xác lập quyền sở hữu cá nhân ruộng đất.
Điều khoản trên mở đường cho người Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Một bộ phận địa chủ Việt Nam cũng lợi dụng sự dung dưỡng của thực dân, ra sức thâu tóm ruộng đất, mở rộng diện tích canh tác ở những vùng đất 10 hoang và trở thành những đại địa chủ. Tình trạng cướp đoạt ruộng đất cùng với chính sách độc chiếm thị trường, bóc lột của đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ làm cho nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa. Cuộc khai thác của tư bản Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân và thợ thủ công càng nhanh bấy nhiêu.
Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam phát triển, là cơ sở xã hội quan trọng cho sự phát sinh bộ phận tư sản Việt Nam. Về văn hóa - tư tưởng, sự lan tỏa của hệ tư tưởng tư sản Tây Âu được truyền bá vào nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, ảnh hưởng của trào lưu cải cách ở Đông Á và sự du nhập Tân thư, Tân văn thổi một luồng gió mới vào Việt Nam, nhất là tư tưởng thực học, thực nghiệp, coi trọng phát triển công - thương nghiệp. Cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm đẩy lùi quan niệm Nho giáo “dĩ nông vi bản”được khởi xướng.
Từ trong cuộc đấu tranh đó nảy sinh cuộc vận động chấn hưng công - thương nghiệp, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Dưới tác động của tư tưởng duy tân, giới công - thương Việt Nam mở rộng công cuộc kinh doanh. Sau một thời gian ngắn, nhiều cơ sở kinh tế làm ăn theo lối tư bản chủ nghĩa của người Việt Nam ra đời. Với sự chuyển biến của kinh tế - xã hội, đồng thời với sự xuất hiện của luồng tư tưởng mới tạo điều kiện thuận lợi dẫn đến sự ra đời của giai cấp tư sản Việt Nam.
Sự ra đời của tư sản Việt Nam Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn (1859), thực dân Pháp bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo ở Nam Kỳ, gắn thị trường lúa gạo của Nam Kỳ với thị trường thế giới. Tiếp đó, ngày 28/9/1897, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định mở rộng diện áp dụng quyền sở hữu ruộng đất ra toàn lãnh thổ. Điều khoản pháp lý trên mở đường cho tư sản Pháp chiếm ruộng đất của nông dân, sau đó bán rẻ hoặc bán cho tay sai, biến lực lượng này thành địa chủ. Địa chủ đặt ra chế độ địa tô nặng nề nhằm nhanh chóng thu được lợi nhuận lớn, mua thêm ruộng đất, lập xưởng, nhà máy, mở hội buôn.
Đến đây, bộ phận địa chủ nàytrở thành những nhà tư sản. 11 Trong hoạt động khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, hai nội dung quan trọng được xác định là triển khai xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc khai thác, bóc lột về kinh tế và thi hành chính sách độc chiếm thị trường Việt Nam, biến thị trường Việt Nam thành thị trường của hàng hóa Pháp. Để thực hiện kế hoạch đó, thực dân Pháp dùng nguồn vốn đầu tư của nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, hệ thống giao thông, bến cảng, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho cuộc khai thác trước mắt và lâu dài. Thực dân Pháp ồ ạt đem hàng hóa vào bán ở thị trường Việt Nam, tạo ra một lớp người trung gian mở đại lý buôn bán, làm thầu khoán công chính.