phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 2 chương và 7 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái quát về ca dao, tục ngữ Việt Nam Ca dao, tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam, một thể loại văn học dân gian độc đáo thể hiện nghệ thuật sống đẹp, bảo vệ chân - thiện - mỹ, đề cao cái hay, phê phán chỉ trích cái xấu trong xã hội. Đặc điểm của ca dao, tục ngữ là phong phú về nội dung nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, hình ảnh hết sức giản dị, chân thật, gần gũi với đời sống của người dân.
Do đó, chỉ cần đọc qua ta có thể nhớ được dễ dàng, nhưng phải đọc đi đọc lại và suy ngẫm ta mới thấy hết được cái hay, cái đẹp trong cách thể hiện nội dung. Tục ngữ ca dao được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, được tách ra từ các tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại. Cho đến nay, về mặt văn học thì ca dao, tục ngữ được xem xét trên nhiều lập trường khác nhau, song chỉ có triết học duy vật biện chứng mới xác lập được phương pháp luận khoa học để tiếp cận đúng bản chất của ca dao, tục ngữ. Bởi triết học duy vật biện chứng gắn liền ca dao tục ngữ với thời đại lịch sử sản sinh ra nó, xem nó là khát vọng của con người muốn giải thích về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và bản thân mình.
Ca dao Việt Nam Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, thì “Ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ” [tr. 303] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã định nghĩa khái niệm ca dao: “Ca dao là những bài hát ngắn không có chương khúc” [16, tr. Cũng bàn về khái niệm ca dao, trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 của tập thể tác giả, Bùi Văn Nguyên (chủ biên) đã nêu: “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc (thường là thể lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [34, tr. Khi phân biệt giữa ca dao và dân ca tác giả Vũ Ngọc Phan cũng đã giải thích: “Ca dao là một loại thơ dân gian, có thể ngâm được như các loại thơ khác” [36, tr.
Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên, trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử.
Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắc Việt Nam, thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam. Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người; đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa những con người lương thiện; đó còn là những nhận thức sâu sắc về bạn, về thù, về chính nghĩa. Tóm lại, qua ca dao, ta có thể thấy rõ hiện thực cuộc sống của nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất. Nội dung của ca dao rất phong phú đa dạng.
Ca dao phản ánh những quan niệm về trời, đất, về thời thế; phản ánh lịch sử công cuộc đấu tranh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống thiên nhiên, chống áp bức bóc lột và xâm lược. Ca dao miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán, những kinh nghiệm trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, những kinh nghiệm trong sản xuất, chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ, trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội, qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ, khó khăn và những phẩm chất tốt đẹp của người dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội để sinh tồn và vươn lên giành lấy hạnh phúc. Nét nổi bật trong bộ phận ca dao lịch sử là nội dung của nó đã thể hiện một cách mạnh mẽ, sâu sắc tình cảm của nhân dân đối với quê hương, đất nước: “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao” [38, tr. Hay những câu ca dao phản ánh những sự kiện lịch sử của dân tộc, nói lên thái độ, quan điểm, lòng yêu nước của nhân dân ta khi bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô xâm lược:“Ru con, con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng/ Túi gấm cho lẫn túi hồng/ Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân” [38, tr.
Ca dao còn là tiếng nói của trái tim, bày tỏ sự uất ức, phẫn nộ của nhân dân, là tiếng hát đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, cường quyền, chống quân xâm lược, vạch trần những cái xấu, những tội ác mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta: “Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa/ Bao giờ dân nổi can qua/ Con vua thất thế lại ra quét chùa” [38, tr. Hay: “Cái cò mày đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con” [38, tr. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình ảnh nổi bật trong những câu ca dao nói về đất nước, quê hương, dân tộc… là hình ảnh về con người Việt Nam cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hy sinh trong quan hệ giữa người với người và luôn lạc quan, yêu đời. Ca dao thể hiện những phẩm chất tốt đẹp đó của con người Việt Nam và hướng họ vươn tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống.
Tiêu biểu như những câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng/ Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” [38, tr. Ca dao còn là tiếng hát nghĩa tình, tiếng hát yêu thương của con người. Phong phú và đặc sắc nhất, giàu cung bậc nhất trong tình cảm của con người là mảng ca dao giành cho tình yêu đôi lứa: “Đố ai quét sạch lá rừng/ Để anh khuyên gió, gió đừng rung cây/ Rung cây, rung cỗi, rung cành/ Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng” [38, tr. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày của nhân dân.
Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho ca dao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân, mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao. Ngoài ra, các chủ đề trong ca dao rất phong phú và đa dạng. Trong ca dao, bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở, ngang trái trong tình yêu. Bên cạnh đó, một trong những bộ phận quan trọng của ca dao là những nhận định về con người và về việc đời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, nhân cách, là cách ứng xử, giao tiếp giữa người với người.
Ta thấy, trong ca dao Việt Nam, tư duy triết học hình thành từ sự thể hiện tình cảm, thể hiện thế giới nội tâm bằng nghệ thuật của ngôn từ, bằng hình tượng để tạo nên các triết lý sâu sắc. Bài ca dao “Tát nước đầu đình”: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà/ Áo anh sứt chỉ đường tà/Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu/ Áo anh sứt chỉ đã lâu/ Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng/ Khâu rồi anh sẽ trả công/ Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho/ Giúp em một thúng xôi vò/ Một con lợn béo một vò rượu tăm/ Giúp em đôi chiếu em nằm/ Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo/ Giúp em quan tám tiền cheo/ Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau” [38, tr. 359], là lời tự sự của chàng trai đối với cô gái nhưng thông qua đó toát lên triết lý lạc quan yêu đời, khát vọng hướng đến một tình yêu đôi lứa chân chính. Tất cả những điều trên cho thấy, trong ca dao Việt Nam, tư duy triết học là một bộ phận rất cơ bản góp phần tạo nên các giá trị tư tưởng của nó.
Như vậy, ca dao Việt Nam đã thể hiện tư duy sâu sắc của cha ông ta trên nhiều phương diện của đời sống. Có thể khẳng định rằng, tư duy triết học trong ca dao không thể hiện bằng con đường lý trí mà trước hết thể hiện bằng tình cảm, để cuối cùng ca dao đem lại cho con người sự xúc cảm thẩm mỹ, những triết lý về nhân sinh, thế sự. Nếu triết lý ở tục ngữ là kết quả của tư duy trừu tượng, tư duy logic, thì triết lý của ca dao là kết quả của tư duy hình tượng, là nghệ thuật của ngôn từ, là các phép ẩn dụ, so sánh. Tục ngữ Việt Nam Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4: “Tục ngữ là một bộ phận của văn học dân gian, gồm những câu ngắn gọn, có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân” [tr.