CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về hứng thú và hứng thú học tập 1. Khái niệm hứng thú và hứng thú học tập “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân với đối tượng vừa có ý nghĩa với cuộc sống vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” [14, tr187].
Hứng thú có một vai trò rất quan trọng với hoạt động của con người: Hứng thú được hiểu là một cơ chế bên trong, sự thể hiện của động cơ trong quá trình nhận thức của con người. Hứng thú là động lực cơ bản để hình thành và phát triển năng lực ở con người. Hứng thú là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và phát triển năng lực cá nhân. Hứng thú và năng lực có quan hệ biện chứng với nhau, làm nền tảng thúc đẩy nhau cùng phát triển và ngược lại.
Hứng thú và năng lực là một cặp không thể tách rời với nhau. Hứng thú học tập còn là sự chọn lựa độc đáo của chủ thể về đối tượng của hoạt động giáo dục, sự thu hút về mặt tình cảm ý nghĩa sâu sắc của nó đối với hoạt động học tập và trong cuộc sống thực tiễn. Các loại hứng thú học tập: - Hứng thú gián tiếp: Tác động bởi những yếu tố bên ngoài đối tượng học tập như khi được bố mẹ, thầy/ cô khen, tuyên dương. Khi được các bạn công nhận thành tích.
Khi nhận được giấy khen của thầy/ cô giáo… - Hứng thú trực tiếp: HS được hấp dẫn bởi chính đối tượng học tập như hứng thú với bài học, với bài giảng, yêu thích môn học môn Toán… Hứng thú học tập được hình thành và phát triển thành 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Thái độ nhận biết có xúc cảm về hiện tượng, được xuất hiện dưới hình thức rung động định kỳ. 10 - Giai đoạn 2: Thái độ rung động định kỳ được tái diễn nhiều lần và được khái quát trở thành thái độ nhận biết có xúc cảm mãnh liệt với hiện tượng. - Giai đoạn 3: Nếu thái độ tích cực vẫn được giữ ổn định, tính sáng tạo, độc lập nơi các em sẽ được khơi dậy thì hứng thú và hình thành thiên hướng riêng. Đặc điểm tâm sinh lý và hứng thú học tập của học sinh tiểu học a) Tri giác Tri giác của học sinh tiểu học còn ít đi sâu vào cụ thể, ít mang tính chủ định cơ bản, còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm.
Khi đến các cấp học cao hơn, năng lực tri giác của HS được phát triển mạnh mẽ hơn. Bởi GV đã tổ chức các hoạt động đặc biệt để giúp HS nhận diện những biểu hiện cơ bản của các hiện tượng và vật thể một cách tự nhiên. Vì vậy khi cho HS học môn Toán bằng những đồ vật thật, những hình ảnh tranh vẽ hay những từ ngữ mang tính hình tượng cao để HS có thể dễ dàng nhớ và tiếp thu được những kiến thức mà GV muốn truyền tải. b) Chú ý Sự chú ý của HS tiểu học và nhất là HS lớp 1 còn yếu, HS thường chú ý không chủ định nhờ những thứ mang tính chất mới mẻ rực rỡ.
GV cần tạo sự hứng thú, lôi quấn sự chú ý của HS bằng cách: + Dùng đồ vật thật, dùng tranh ảnh, hình vẽ. + Thường xuyên nhận xét, tuyên dương, khen thưởng, khích lệ HS. + Có thời gian học khoa học: Cứ từ 30 đến 35 phút học tập HS cần có thời gian nghỉ ngơi để thư giãn như: nghỉ giải lao, trò chơi…. + Hướng dẫn HS sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, khoa học, rõ ràng.
c) Trí nhớ + HS tiểu học có trí nhớ trực quan hình tượng mạnh hơn từ ngữ logic. Các em lớp nhỏ thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc do chưa có từ ngữ phong phú. 11 + GV cần có mỗi cách hướng dẫn HS ghi nhớ theo từng đối tượng, có nhiều cách ghi nhớ khác nhau: ghi nhớ bằng hình ảnh, tư duy logic, theo điểm tựa, nội dung ghi nhớ phù hợp với các em trong các lớp học. d) Tưởng tượng + HS tiểu học có trí tưởng tượng rất phong phú.
+ Học môn Toán lớp 1, 2, 3 khi học có đồ vật thật thì trí tưởng tượng của HS càng phong phú và không lệch lạc với các phép tính bằng cách dùng sự vật. + Học môn Toán lớp 4, 5 HS thường nghiêng về tư duy logic. e) Tư duy + Tư duy của HS thường dựa vào cái nhìn trực quan (hình ảnh) vào đối tượng. + Khả năng tư duy logic của HS tăng dần theo sự tăng của lứa tuổi.
+ GV cần đặt ra cho HS những câu hỏi mang tính chất mới lạ, mang tính chất tư duy logic, tư duy hình tượng đối với HS. g) Thể chất Quá trình phát triển cơ thể của HS dưới 10 tuổi được diễn ra đều đặn và cân đối. Mỗi năm, chiều cao tăng khoảng 4-5 cm, cân nặng tăng khoảng 2-3 kg; sự phát triển của cơ tay, bắp chân được nhìn thấy rõ rệt, nhưng khả năng thực hiện các động tác tinh vi (như viết chữ) lại gặp khó khăn. Khi đến 10 tuổi, khả năng làm việc của các cơ đã phát triển mạnh mẽ, động tác trở nên linh hoạt và tinh xảo hơn.
Tuy nhiên, các cơ sau ở phần lưng vẫn chưa mạnh mẽ. Cột sống của trẻ vẫn khá mềm dẻo, và việc ngồi không đúng tư thế có thể dẫn đến vẹo cột sống. Sức lực tiêu hao giảm đi, hệ hô hấp hoạt động không hiệu quả. Tổng quan về sức khỏe của trẻ vẫn còn có những hạn chế, do đó cần tránh cho trẻ áp lực trong quá trình học tập và không được ép buộc vào việc học quá sức.
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Cấp học đầu tiên, Tiểu học, được xem như nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông. Bắt đầu vào lớp 1 đã làm cho toàn bộ nhân cách 12 HS tiểu học, địa vị của trẻ trong xã hội, vị trí trong tập thể và gia đình thay đổi căn bản (thay đổi vị trí trẻ con của mình trở thành một HS, cũng bận việc như người lớn, có đồng phục, có cặp sách và nơi học riêng, v. Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ yếu, hình thành trách nhiệm xã hội quan trọng nhất đối với HS. Muốn tổ chức tốt hoạt động học tập của HS cần hiểu rõ đặc điểm nhận thức trong giai đoạn đang phát triển của HS.
Hoạt động học tập của HS tiểu học trước hết là thúc đẩy sự phát triển các quá trình nhận thức trực tiếp thế giới xung quanh – quá trình cảm giác và tri giác. Tri giác của HS tiểu học rất sắc bén và tươi sáng, song lại có tính ít phân hoá. Ví dụ, HS thường nhầm lẫn giữa chữ và từ giống nhau về hình dạng chữ viết hay cách phát âm. Hành động được gắn chặt với tri giác, với sự thực hành của trẻ, được bày tỏ qua cảm xúc.
Do đó, hình ảnh trực quan, sống động, và sáng tạo được ưa chuộng hơn những biểu tượng trừu tượng. Tuy nhiên, cũng cần xem xét màu sắc và hình dạng của các hình ảnh, tranh vẽ trong tài liệu học để làm cho chúng phong phú và thu hút người đọc. Nếu các bức tranh có màu sắc rực rỡ, sặc sỡ quá trong sách tập đọc sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành kỹ năng đọc. Ở lứa tuổi HS tiểu học, khả năng chú ý có chủ định rất yếu vì luôn gắn bó với một động cơ gần gũi (được GV khen ngợi, đạt điểm 10.), sự chú ý dễ dàng bị phân tán và năng lực điều tiết chú ý cũng rất yếu, trong khi đó khả năng chú ý không có chủ định lại phát triển.
Vì vậy, cần dùng hợp lý (nghĩa là không lạm dụng) các tư liệu trực quan như các tranh ảnh cổ động, biểu đồ, hình vẽ, không có khả năng thu hút, lôi kéo sự chú ý của HS. Tuy nhiên, theo năm tháng năng lực kiểm soát và điều hành chú ý có chủ định của HS tiểu học đang phát triển đến trình độ cao hơn về cuối bậc học. HS tiểu học có trí nhớ trực quan – biểu tượng phát triển hơn ghi nhớ ngôn từ – khái niệm, ghi nhớ trừu tượng phát triển hơn ghi nhớ có chủ định nên HS tiểu học thích đọc thuộc lòng tư liệu học tập hơn là tổng hợp, sắp xếp chúng. Do đó, GV cần rèn luyện ở HS khả năng nhận biết và phân loại nội 13 dung ghi nhớ (khái niệm, phương pháp cần ghi nhớ nhiều, nhưng từng bộ phận lại chỉ cần ghi nhớ và khi cần có thể ghép chúng thành lời nói của mình), tạo tư thế vững chắc cho sự ghi nhớ, rèn luyện cho HS cách thức và phương tiện ghi nhớ (dùng hình tượng như là phương tiện để ghi nhớ, tạo ra những điểm tựa đặc biệt để ghi nhớ, v.
Hoạt động phân tích, tổng hợp đối với HS tiểu học vẫn hết sức sơ khai, đang trong thời kỳ nhận thức tổng hợp – hành vi khi tri giác trực tiếp sự vật. Chính bởi đặc trưng này trong tư duy mà HS tiểu học không phân loại và tách được biểu hiện không thực chất ngay từ khi phát hiện. Đặc điểm hứng thú của học sinh tiểu học a) Hứng thú của học sinh tiểu học Là những nét riêng độc đáo, đặc trưng cho loại hứng thú này khiến ta được phân biệt hứng thú trong việc học môn Toán của các em so với việc học môn khác và sự hứng thú trong việc học môn Toán của các bậc học khác. b) Đặc điểm hứng thú của học sinh tiểu học - Hứng thú học môn Toán của HS thường hơn các môn học khác ở Tiểu học như Tiếng Việt, Tiếng Anh, Đạo đức, Tự nhiên xã hội.
- Hứng thú giao tiếp: Do có tác động từ bên ngoài như gia đình, GV khuyến khích tinh thần học tập của HS, sự vật gây hứng thú. - Hứng thú trực tiếp: Do HS yêu thích môn học, chủ động tìm tòi nghiên cứu các kiến thức môn học. - Hứng thú của HS được biểu hiện ở thái độ, xúc cảm, hành vi, nhận thức trong quá trình học tập Toán học. c) Sự hình thành và phát triển của hứng thú học tập Giai đoạn 1: HS có thái độ nhận thức, xúc cảm đối với hiện tượng được xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ.
Giai đoạn 2: HS có rung động định kỳ được lặp đi lặp lại nhiều lần và được khái quát trở thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực với đối tượng.