phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Pháp luật về an toàn thực phẩm 1. Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm Khái niệm an toàn thực phẩm Con ngƣời tồn tại và duy trì sự sống thông qua việc nạp các nguồn năng lƣợng mà chủ yếu là từ nguồn thực phẩm để ăn, uống hằng ngày. Để tìm hiểu rõ khái niệm về ATTP trƣớc tiên cần tìm hiểu về thực phẩm là gì.
"Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con ngƣời ở dạng tƣơi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất đƣợc sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm" [17, tr10]. Tuy nhiên, về sau khái niệm thực phẩm nhƣ ban đầu nó không còn phù hợp nữa vì bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm, thuốc dùng để chữa bệnh mà đây thì không đƣợc xem là thực phẩm, mặc dù vậy nhƣng nó đã phần nào khẳng định bƣớc đầu hình thành nền pháp lý về ATTP ở Việt Nam. Và để loại bỏ những sai sót trên nó đã đƣợc thay thế bởi một khái niệm tƣơng đối hoàn chỉnh hơn trong một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và ở đây thực phẩm đƣợc định nghĩa là: "Thực phẩm là những sản phẩm mà con ngƣời ăn, uống ở dạng tƣơi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản" [39]. Khái niệm trên đƣợc nêu khá đầy đủ, đƣợc sử dụng trong khoảng thời gian qua, nhƣng do xã hội ngày càng phát triển, thực phẩm cũng trở nên đa dạng và phong phú nên nó vẫn chƣa đƣợc thể hiện một cách đầy đủ nhất, mà nó sẽ đƣợc thay thế bởi một khái niệm đầy đủ và có giá trị pháp lý cao hơn: "Thực phẩm là những sản phẩm mà con ngƣời ăn, uống ở dạng tƣơi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.
Khái niệm thực phẩm này không bao gồm thuốc dùng cho ngƣời, các chất gây nghiện và thuốc lá" [22]. 10 Trƣớc tình hình sức khỏe ngƣời dân đang bị đe dọa bởi việc thực phẩm mất vệ sinh, kém chất lƣợng ngày càng tràn lan làm ảnh hƣởng đến sức khỏe hiện nay thì việc giữ gìn ATTP là một điều hết sức cần thiết, vì vậy nên đảm bảo an toàn thực phẩm. “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng con ngƣời” [22]. An toàn thực phẩm đƣợc hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con ngƣời nói chung.
ATTP là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng ngƣời sử dụng, bảo quản thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe của con ngƣời. Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm Và ngày 17 tháng 6 năm 2010, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật ATTP. Pháp luật về an toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Pháp luật về ATTP ở Việt Nam, là một bộ phận trong hệ thống pháp luật hiện hành của nƣớc ta, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nƣớc ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về ATTP [22].
Nhƣ vậy, pháp luật ATTP là toàn bộ các quy tắc xử sự thể hiện ở các văn bản luật và dƣới luật, các thông tƣ, nghị định có liên quan điều chỉnh các quan 11 hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ATTP. Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, nhiều luật, pháp lệnh mới hoặc sửa đổi bổ sung có liên quan tới công tác quản lý ATTP cũng đƣợc ban hành. Nội dung của pháp luật về an toàn thực phẩm Hệ thống pháp luật đã bảo đảm ATTP bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nƣớc trong công tác bảo đảm ATTP và quy định các phƣơng tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch đó. Chính vì thế, pháp luật trong việc bảo đảm ATTP đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý lĩnh vực này.
Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về bảo đảm ATTP ở nƣớc ta đã từng bƣớc đƣợc xây dựng và hoàn thiện, góp phần điểu chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực thực phẩm. Nhìn chung có thể thấy vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm ATTP hiện nay nhƣ sau: Thứ nhất, pháp luật quy định các quy tắc xử sự chung cho mọi ngƣời trong những hoạt động ở lĩnh vực thực phẩm. Về mặt này, pháp luật điều chỉnh khá đầy đủ những hành vi, hoạt động liên quan đến điều kiện đảm bảo ATTP; điều kiện đảm bảo chất lƣợng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; xuất – nhập khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn sản phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với ATTP, phòng ngừa ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; đƣa ra những hành vi bị cấm. Ví dụ trong Luật ATTP năm 2010 đã có những quy định nhƣ: Khoản 1 Điều 10 về điều kiện chung để đảm bảo an toàn đối với thực phẩm là “đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tƣơng ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật, dƣ lƣợng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con ngƣời”; Điều 43 quy định về Quảng cáo thực phẩm là “Bộ trƣởng Bộ Y tế, Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trƣởng Bộ Công Thƣơng quy định cụ thể loại thực phẩm phải đăng 12 ký quảng cáo, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm thuộc lĩnh vực đƣợc phân công quản lý”; Điều 5 quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm [22].
Thứ hai, pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con ngƣời thực hiện những yêu cầu của pháp luật để đảm bảo ATTP. Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh, sản xuất thực phẩm thƣờng chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của ngƣời khác, của chung cộng đồng, bỏ qua hoặc không tự giác thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm phải thực hiện với việc bảo đảm ATTP. Chẳng hạn, khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá thực phẩm tiêu chuẩn, các chủ sản xuất kinh doanh thƣờng không thấy trƣớc đƣợc lợi ích của mình do đó luôn tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ pháp lý với thực phẩm. Khi đó, chế tài mà pháp luật quy định đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội.
Các chế tài đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật bảo đảm ATTP; ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật, qua đó ngăn ngừa và hạn chế những hành động sai trái tác động đến chất lƣợng thực phẩm. Thứ ba, pháp luật quy định các tiêu chuẩn bảo đảm ATTP, đồng thời công nhận những thực phẩm đạt chuẩn bảo đảm an toàn. Nhằm đánh giá đƣợc mức độ bảo đảm an toàn cho thực phẩm trƣớc khi đến tay ngƣời tiêu dùng, pháp luật Việt Nam hiện nay đã đặt ra những tiêu chuẩn nhất định cho thực phẩm và cả quá trình chế biến, phân phối thực phẩm an toàn. Những tiêu chuẩn này thƣờng do Bộ Y tế ban hành và đƣợc gọi là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia ATTP.
Nhờ đặt ra những quy chuẩn này, việc đánh giá mức độ an toàn của thực phẩm trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Cũng từ đó có thể công nhận danh hiệu cho những sản phẩm thực phẩm đạt chuẩn để chúng tạo dựng đƣợc niềm tin với ngƣời tiêu dùng; 13 đẩy lùi những thực phẩm không rõ nguồn gốc, kém an toàn và có thể gây nguy hại đến sức khoẻ con ngƣời. Thứ tư, pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo đảm ATTP. Nhƣ ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nƣớc và thực phẩm cũng không là ngoại lệ.
Hơn thế, bảo đảm ATTP còn là một hoạt động, nhiệm vụ quan trọng bởi thực phẩm là vấn đề tƣơng đối phức tạp nên rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo đảm ATTP. Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nƣớc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nƣớc đối với bảo đảm ATTP. Nhờ sự phân chia nhƣ vậy của pháp luật đã tạo ra sự phối hợp ngày càng nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nƣớc về ATTP.
Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm 1.