Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Đông Hải Dương Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín” dụng của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Đông Hải Dương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ phi tín dụng của NHTM 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại dịch vụ ngân hàng 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất về dịch “vụ. Chẳng hạn, Từ điển bách khoa giải thích: Dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Cách giải thích này còn chung chung và chưa thực sự làm rõ được bản chất của dịch vụ. Trong cuốn Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, đã đưa ra khái niệm về dịch vụ như sau: Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được.
So với cách giải thích của Từ điển bách khoa, cách giải thích này đã làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ - dịch vụ là kết tinh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình. Hiện nay, tại mỗi quốc gia lại có cách hiểu về dịch vụ mà chưa có sự thống nhất trong định nghĩa. Hiệp định chung về thương mại (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới cũng không nêu khái niệm dịch vụ mà thay vào đó là chia thành 12 ngành lớn. Trong các ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể.
Dịch vụ tài chính được xếp thứ 7. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Theo Luật các tổ chức tín dụng VN có quy định DVNH nhưng không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng được bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và DVNH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Chương 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể hiểu: Dịch vụ ngân hàng (DVNH) là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, gồm các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng - Thứ nhất: Quá trình cung ứng DV và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Quá trình cung cấp và tiêu dùng DVNH được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay…Điều này làm cho DVNH không có dịch vụ dở dang, dịch vụ lưu kho mà được cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu. Do đó, các NH thường tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng và các NH khác bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong đội ngũ nhân viên NH và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này.
- Thứ hai: Tính không ổn định và khó xác định Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…). Hơn nữa đối với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian.
- Thứ ba: Tính không lưu giữ được Các DVNH của NHTM mang tính vô hình, do vậy cũng không thể lưu kho được. Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thường giao động lớn có thời điểm nhu cầu tăng đột biến, song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ. Ví dụ, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền tại thời điểm cuối năm là rất lớn nhưng các NH phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất. Chính vì vậy chi phí DVNH tương đối cao.
- Thứ tư: Dịch vụ mang tính vô hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt DVNH với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. DVNH không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được trước khi mua chúng như bất cứ dịch vụ vẫn được cung cấp. Khách hàng khi đến với NH không thể biết chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không? Số tiền thanh toán cho khách hàng có đúng hẹn hay không? Do vậy, để khắc phục đặc điểm này thì trong kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin. Hoạt động của NH phải hướng vào việc cũng cố và tạo ra lòng tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, quảng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH.
Phân loại dịch vụ ngân hàng - Căn cứ theo tính chất dịch vụ thì DVNH được phân thành hai loại: Dịch vụ tín dụng NH và dịch vụ phi tín dụng NH. + Dịch vụ tín dụng ngân hàng: đây là hoạt động đem lại thu nhập cho ngân hàng từ lãi cho vay, thể hiện sự vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ người cho vay (ngân hàng) sang người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm (tin tưởng) người đi vay sử dụng tài sản hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. + Dịch vụ phi tín dụng ngân hàng: đây là hoạt động đem lại thu nhập cho ngân hàng từ phí dịch vụ mà khách hàng bỏ ra để được sử dụng dịch vụ, cụ thể, đó là các dịch vụ gắn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp DVNH cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân nhằm thu được lợi nhuận, điển hình cho DV này là DV thanh toán, DV bảo lãnh, DVNH điện tử, DV kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý… Vì vậy, mức phí sẽ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ chất lượng dịch vụ mà ngân hàng có thể cung ứng. - Căn cứ theo cách thức cung cấp dịch vụ, có thể chia DVNH thành 2 loại: Dịch vụ ngân hàng bán buôn; Dịch vụ ngân hàng bán lẻ: + DVNH bán buôn là cách thức bán thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ…) hoặc thông qua thị trường tài chính (như thị trường tiền tệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 liên NH để cho vay, thanh toán bù trừ…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói DV giá trị lớn.
+ DVNH bán lẻ là những hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số gói DV nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ chức kinh tế lớn. Dịch vụ phi tín dụng 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng Theo quan điểm của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu khi nghiên cứu dự án: “khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng Ngân hàng Việt Nam” cho rằng dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ nào của Ngân hàng hoặc TCTD mà không phải là dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là loại hình dịch vụ là khi được cung cấp bởi Ngân hàng hoặc TCTD không phát sinh nghiệp vụ liên quan đến cung cấp và thu hồi vốn đối với khách hàng.
Có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ phi tín dụng. Xem xét, đánh giá một dịch vụ Ngân hàng có phải là dịch vụ phi tín dụng hay không còn tùy thuộc vào quan điểm đánh giá, giác độ đánh giá của từng tác giả. Ngoài quan điểm như trên còn có quan điểm cho rằng dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ do Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm thu phí, hoa hồng, chênh lệch hoặc đơn giản chỉ là nâng cao uy tín của Ngân hàng. Trong hoạt động DV truyền thống của NHTM thì DVPTD với hoạt động thanh toán là hoạt động tiêu biểu nhất, mà trong đó cụ thể là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không bằng tiền mặt.
Đây cũng là cơ sở để NHTM huy động vốn thông qua hình thức gửi tiền vào NH với tính tiện ích ngày càng cao. Các DVPTD khác của NHTM đều hướng tới mục tiêu là ngày càng nâng cao tính tiện ích của DV và sử dụng hiệu quả thu nhập của các khách hàng thông qua DVPTD. DVPTD có thể phát sinh đồng thời với hoạt động của DVTD (huy động vốn và cung cấp vốn) của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn. Bên cạnh đó, một số DVPTD hoạt động độc lập với hoạt động tín dụng như: Thu hồi tiền tiêu thụ sản phẩm cho khách hàng; Thanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 toán chi trả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất; Chuyển tiền lương qua tài khoản; Chuyển tiền nộp thuế cho khách hàng…thông qua các DV sử dụng như thẻ ATM; Séc; Chuyển tiền.
Để nhận biết dịch vụ NH nào là DVPTD có thể dựa vào các yếu tố như sau: Thứ nhất: Khi khách hàng thực hiện giao dịch với NH thì NH không phải sử dụng đến nguồn vốn (hoặc nếu có thì sử dụng không nhiều nguồn vốn) để thực hiện giao dịch.