Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TINH THẦN SINH THÁI VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI Sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh công nghiệp mang đến cho con người một cuộc sống hiện đại với đầy đủ tiện nghi về vật chất. Tồn tại song song với sự hiện đại ấy là những nguy cơ về sinh thái mà con người phải đối mặt. Ý thức được điều đó, các nhà văn đã đưa ra những lời cảnh báo môi trường trong các sáng tác của họ. Lúc này, văn học trở thành nơi để thảo luận và phản biện những thói quen văn hóa, phản biện thuyết loài người là trung tâm.
Phê bình sinh thái đã đi tìm và chỉ ra tinh thần sinh thái trong các sáng tác văn học ấy. Đồng thoại là một trong những thể loại đặc biệt của văn học, nó thu hút độc giả bởi sự kết hợp nhuần nhụy giữa hiện thực cuộc sống và ước mơ bay bổng. Những tác phẩm đồng thoại đa phần đều có cốt truyện rõ ràng, hình tượng sinh động, cụ thể, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp. Lịch sử phát triển của thể loại đã ghi nhận sự đóng góp của nhiều cây bút xuất sắc như: Tô Hoài, Võ Quảng, Vũ Tú Nam, Nguyễn Đình Thi,… Trong thành tựu chung của văn học Việt Nam hiện đại, sự hình thành và phát triển của mảng truyện đồng thoại có một ý nghĩa quan trọng.
Để làm rõ được những vấn đề liên quan đến tinh thần sinh thái trong truyện đồng thoại, cụ thể là truyện đồng thoại ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI, người viết cần có những tiền đề lí thuyết để làm căn cứ cho phân tích cũng như lựa chọn các tác phẩm khảo sát. Vì thế, trong chương này, người viết tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản về tinh thần sinh thái và truyện đồng thoại Việt Nam đương đại có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Khái lược về tinh thần sinh thái 1. Khái niệm tinh thần sinh thái Phê bình sinh thái (ecocriticism) thuộc hệ hình của phê bình hậu hiện đại, được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ XX.
Có rất nhiều cách định nghĩa về phê bình sinh thái. Một trong những định nghĩa đầy đủ về phê bình sinh thái đã được đúc kết trong cuốn Rừng khô, suối cạn, biển độc,… và văn chương như sau: Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017, tr. Phê bình sinh thái khẳng định tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên. Phê bình sinh thái hiện nay thường được nghiên cứu theo hai bình diện đó là sinh thái học tự nhiên và sinh thái học tinh thần.
Mục đích của phê bình sinh thái là tìm kiếm trong văn học những thông điệp môi trường để khơi gợi nhu cầu tìm hiểu và khắc phục những thương tổn mà con người đã gây ra cho tự nhiên. Tinh thần sinh thái được hiểu đơn giản là các dấu vết của các vấn đề về sinh thái được thể hiện qua tác phẩm, từ đó làm rõ mối quan hệ của con người với thế giới phi nhân loại. Cốt lõi của tinh thần sinh thái trong văn chương là thông qua trường thẩm mĩ ngôn từ để nêu lên, đặt ra những vấn đề quan thiết về nhận thức, hành xử của con người đối với môi trường sống của bản thân, đồng loại. Với nhiều tác giả, khi viết nên những sáng tác của mình, họ chưa có những khái niệm về văn học sinh thái nhưng các tác phẩm của họ vẫn thấm 15 đượm tinh thần sinh thái khi mang đến cho người đọc một cái nhìn khác về thế giới tự nhiên.
Từ đó chỉ ra những vấn đề tiềm ẩn, những nguy cơ sinh thái và nêu cao các thông điệp bảo vệ môi trường, bảo vệ tự nhiên. Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ và chính xác về tinh thần sinh thái. Vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tạm định nghĩa: Tinh thần sinh thái là những vấn đề về sinh thái được thể hiện qua trường thẩm mĩ ngôn từ của văn chương nhằm làm rõ mối quan hệ giữa con người và thế giới phi nhân loại. Qua đó, nó góp phần thay đổi những tư tưởng, quan niệm của con người về thế giới tự nhiên.
Biểu hiện của tinh thần sinh thái trong văn học Tinh thần sinh thái thường được các nhà văn thể hiện qua những chuyện đời thường, vụn vặt nhưng lại liên quan mật thiết đến những vấn đề mang tính thời sự. Từ lăng kính của cuộc sống đời thường, những vấn đề về sinh thái như: ô nhiễm môi trường, sự suy giảm thậm chí là diệt vong của hệ sinh thái,… đã được đề cập, làm rõ. Qua những tác phẩm của mình, nhà văn muốn gửi gắm ước mơ, mong muốn về một thế giới mà ở đó con người sống hòa thuận với loài vật, với thiên nhiên trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng: Trời sinh muôn loài chắc là, chẳng phải để giỡn chơi. Nếu chẳng phải để giỡn chơi, chắc trời ban mỗi loài có một giá trị về sinh thái và, nó cũng chẳng thể tách rời cả hệ sinh thái trong trời đất.
Người “nhân danh” sự sống của mình, thay đổi hệ sinh thái thì chính sự thay đổi ấy sẽ từng bước cướp đi sự sống con người (Trần Bảo Định, 2017, tr. Ở phương diện thể loại, tinh thần sinh thái được thể hiện nổi bật qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn. Không khó để bắt gặp các trang văn đầy tinh thần sinh thái trong sáng tác của Trần Đức Tiến, Trần Bảo Định, Nguyễn Ngọc Tư, Lê Hữu Nam… Với một tấm lòng yêu thiên nhiên, muôn 16 loài, các nhà văn mượn con vật để nhắc nhở con người, mượn ánh nhìn của loài vật để cất lên những chất vấn về sinh thái. Bên cạnh đó, tinh thần sinh thái thuộc phê bình sinh thái còn được thể hiện qua đặc điểm lệch tâm, tản quyền – một đặc điểm quan trọng của tính giải cấu trúc trong văn học hậu hiện đại.
Ta có thể dễ dàng thấy được sự phá vỡ của luận thuyết “nhân loại trung tâm” trong các sáng tác văn học. Với đặc điểm này, vị trí trung tâm được chuyển hướng đến giới tự nhiên, đến bối cảnh xung quanh của con người, tạo thành “chủ nghĩa phi nhân loại trung tâm”. Đồng thời nó phá vỡ quan niệm con người có khả năng thống trị, quyết định vận mệnh của các loài khác, có quyền thay đổi tự nhiên để bắt tự nhiên phục vụ cho đời sống của mình. “Chủ nghĩa phi nhân loại trung tâm” hướng con người đến với mối quan hệ hòa hợp với thế giới phi nhân loại.
Con người không còn là trung tâm của vũ trụ, không có quyền đoạt đi mạng sống của bất kì loài vật nào. Cùng với sự lệch tâm và tản quyền, cái chết của chủ thể là điều không thể tránh khỏi. Con người không còn là chủ thể, buộc họ phải từ bỏ những dục vọng thống trị, cưỡng đoạt tự nhiên và đối diện với một thế giới tự nhiên đang bị tàn phá, hủy diệt, những nguy cơ sinh thái nghiêm trọng. Từ cái chết của chủ thể, tinh thần sinh thái mong muốn hạn chế những suy nghĩ, hành động phi lí của con người với thế giới phi nhân loại.
Mặt khác, tinh thần sinh thái được thể hiện qua sự lật đổ và tái thiết các quan niệm, tư tưởng. Thế giới là một hệ thống phức hợp của con người – xã hội – tự nhiên. Vì thế, ngoài việc lật đổ chủ nghĩa nhân loại trung tâm, phủ định quyền làm chủ của con người, tinh thần sinh thái còn tái thiết môi trường thông qua việc thay đổi các quan niệm để chuộc lỗi với thiên nhiên. Xây dựng một xã hội phát triển bền vững dựa trên mối quan hệ hòa hợp, tôn trọng giữa con người và tự nhiên.
17 Biểu hiện cuối cùng của tinh thần sinh thái được thể hiện qua tính đối thoại. Với chủ thể sáng tạo văn học là tự nhiên, tinh thần sinh thái phản đối sự độc đoán, khẳng định tính đa chủ thể, đa thanh. Do đó, vận dụng lý luận đối thoại vào văn học sinh thái giúp làm rõ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, khiến chúng ta hiểu hơn về thế giới tự nhiên trước những nỗi khiếp sợ, hoài nghi và sự chạy trốn con người. Có thể thấy với những biểu hiện trên, tinh thần sinh thái đã đem đến cho nghiên cứu văn học một diện mạo mới, đưa văn học vượt ra khỏi ranh giới chuyên môn nhỏ hẹp trở thành một ngành khoa học mở.
Tinh thần sinh thái trong phê bình văn học Việt Nam đương đại Trong cuốn Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ, khi nói về tinh thần sinh thái trong văn học Nam Bộ, Bùi Thanh Truyền (2018) đã nhận định: “Tinh thần sinh thái – một yếu tính của văn xuôi hiện đại Nam Bộ” (tr. Nó mang đến một cái nhìn nhân văn và toàn cảnh khi mà sự khủng hoảng sinh thái diễn ra ngày càng trầm trọng. Trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học Việt Nam vẫn luôn tồn tại. Trong nghiên cứu văn học dân gian, cảm thức trong mối quan hệ với tự nhiên của con người đó là niềm kính sợ, tôn sùng tự nhiên trong những tác phẩm sử thi, thần thoại.
Cảm thức của sự thống nhất giữa con người và tự nhiên qua thế giới loài vật, thực vật trong ca dao. Trong văn học trung đại, cảm thức giữa con người và tự nhiên là sự hòa điệu. Con người đem thiên nhiên thành nơi trú ẩn, cứu rỗi cho tâm hồn khi phải “lánh đục tìm trong”. Thiên nhiên còn trở thành người bạn, người chia sẻ nỗi niềm với con người.
Tuy nhiên, tất cả chỉ dừng lại ở mức độ “hòa điệu”, thay thế con người bộc lộ tâm tư tình cảm, thiên nhiên vẫn chỉ làm nền cho sự xuất hiện của con người. Trong những nghiên cứu về văn học lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945, con người vẫn giữ vị trí trung tâm, việc mô tả tự nhiên chỉ để làm nổi bật những nét đẹp của con người. Các công trình nghiên 18 cứu văn học Việt Nam sau năm 1975 cũng cho thấy văn học đã nhìn nhận con người ở khía cạnh tự nhiên, sự gắn bó của con người với đất đai, thiên nhiên xứ sở đã phần nào chạm đến vấn đề sinh thái.