CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ Từ trước đến nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ. Đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đều đặt ra và giải quyết những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ.
Một số tên tuổi đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này là A. Karlinskij, Mikhal’chenko V. Ju với các công trình Những vấn đề dân tộc - ngôn ngữ ở Liên bang Nga; Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ/Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc. Những công trình nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu vào miêu tả về cảnh huống ngôn ngữ và các chính sách ngôn ngữ của quốc gia đa dân tộc là Liên bang Nga.
Một số tác giả khác cũng đề cập tới vấn đề này: V. Gần đây, có thể kể đến những công trình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ như: Language and space; Language Mapping (Lameli, A. Các công trình nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ bằng bản đồ ngôn ngữ số này đã góp phần rất lớn trong việc xác định sự lớn mạnh của tộc người trong các quốc gia khác nhau. Việc sử dụng bản đồ ngôn ngữ số vừa thể hiện sự tích hợp công nghệ trong nghiên cứu ngôn ngữ, vừa mở ra một hướng tiếp cận mới cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong tương lai.
Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả khác như: F.Dessemont với công trình Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Thụy sĩ [Dẫn theo 43].Dessemont đã đưa ra những nhận xét về sự lép vế của tiếng Roman và nhận rằng tiếng Đức là ngôn ngữ có uy lực hơn cả về chính trị, kinh tế. Tại các nước đa dân tộc có ngành công nghiệp phát triển như Thụy Sĩ, họ tuân thủ luật ngôn ngữ rất nghiêm ngặt. Bởi, ngôn ngữ có vai trò xác định văn hóa và thành phần dân tộc của người Thụy Sĩ, cho nên việc xác định về cảnh huống ngôn ngữ ở Thụy Sĩ của F.Dessemont là rất cần thiết. 6 Bên cạnh Thụy Sĩ, Canada cũng là một quốc gia đa dân tộc có nhiều vấn đề về cảnh huống ngôn ngữ đã được nghiên cứu.
Trong công trình của Kozhemjakina V. Cảnh huống ngôn ngữ và quy chế ngôn ngữ ở Canada, tác giả đã chỉ ra những khó khăn về chính sách ngôn ngữ của chính phủ và đã chỉ ra rằng: Tiếng Anh chiếm ưu thế trong lĩnh vực sản xuất. Thậm chí, rất nhiều người nói tiếng Pháp lại thường sử dụng tiếng Anh hơn là sử dụng TMĐ của mình khi giải quyết những vấn đề lớn mang tính toàn cầu. Nhà nghiên cứu T.
Kriuchkova đã nhận định: “cảnh huống ngôn ngữ là một hiện tượng phức tạp, nhiều tầng bậc, bao gồm một số thông số khách quan và chủ quan nhất định” [Dẫn theo 9, tr. Các thông số khách quan bao gồm [Dẫn theo 9, tr.16]: (i) Số lượng ngôn ngữ (phương ngữ, biệt ngữ v.) có hoạt động hành chức trên một địa bàn lãnh thổ - hành chính. Tính bình đẳng/không bình đẳng về chức năng giữa chúng, đặc điểm ngôn ngữ có ưu thế (bản ngữ “ngôn ngữ nhập”). Các thông số chủ quan bao gồm: (i) Sự đánh giá của các đối tượng sử dụng ngôn ngữ về các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại các ngôn ngữ tham gia vào cảnh huống.
(ii) Các đánh giá tập trung mà khả năng ứng dụng trong giao tiếp, uy tín, văn hóa và thẩm mĩ,. của ngôn ngữ. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ DTTS nói chung và cảnh huống ngôn ngữ nói riêng cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Viện Ngôn ngữ học đã cho xuất bản công trình nghiên cứu Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc năm (1997) [52].
Đây là một tập bài viết thực hiện trong khuôn khổ của chương trình hợp tác Việt – Nga về điều tra các 7 vấn đề liên quan đến cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở một số quốc gia đa dân tộc trên thế giới, như cảnh huống ngôn ngữ, xung đột ngôn ngữ, các đạo luật về ngôn ngữ, xây dựng luật ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ, sự đảm bảo của pháp luật đối với ngôn ngữ. Có thể nói, đây là một tập tài tiệu quý, có giá trị tham khảo quan trọng không chỉ cho những người nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học mà còn cho cả các cơ quan Nhà nước trong việc hoạch định chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của đất nước [53, tr. Nguyễn Văn Khang với công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội (2012) [19] đã dành một phần dung lượng khá lớn để trình bày về cảnh huống ngôn ngữ của các DTTS ở Việt Nam. Ông đã trích dẫn nhiều khái niệm cảnh huống ngôn ngữ của một số nhà nghiên cứu, từ đó chỉ ra rõ các nội dung của cảnh huống ngôn ngữ nói chung.
Tác giả cũng đi sâu phân tích các đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ Việt Nam như đặc điểm về các tiêu chí xác định cảnh huống ngôn ngữ, phân loại ngôn ngữ theo cảnh huống ngôn ngữ, đặc điểm về sự hình thành và phát triển của các dân tộc, ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ ở các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam, từ đó đưa ra cách nhìn khái quát những vấn đề chung về cảnh huống ngôn ngữ của các DTTS ở Việt Nam và những nét mới về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, ở phần nghiên cứu này Nguyễn Văn Khang chưa đề cập đến nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ của một địa phương, một tộc người cụ thể. Nguyễn Đức Tồn (2016), với công trình nghiên cứu Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế [45]. Công trình này là kết quả thực hiện chương trình khoa học Những vấn đề về chính sách ngôn ngữ của Việt Nam đến năm 2020 (gồm 7 đề tài nhánh) được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giao cho Viện Ngôn ngữ học thực hiện.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra đầy đủ tài liệu về cơ sở lí luận, thực tiễn và kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Nga trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra cơ sở lí luận và thực tiễn khi xây dựng chính sách ngôn ngữ của Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra cảnh huống ngôn 8 ngữ của Việt Nam hiện nay ở vùng Đông Bắc (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Hà Giang), Trung Bộ (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, vùng Tây Nguyên), Nam Bộ (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh An Giang, tỉnh Sóc Trăng). Tuy nhiên,công trình nghiên cứu trên chưa quan tâm tới nghiên cứu các dân tộc cụ thể cho nên chưa bao quát được toàn cảnh bức tranh về cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam.
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn, luận án đã chọn cảnh huống ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể làm đối tượng nghiên cứu như: Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2001) [18]; Đặng Lệ Thuỷ (2009), Tình hình sử dụng TV ở vùng đồng bào Khơ Mú huyện Kì Sơn - tỉnh Nghệ An, Báo cáo nghiên cứu khoa học[44]; Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên (Dương Thị Thanh Hoa, 2010) [10]; Cảnh huống ngôn ngữ của người Pà Thẻn ở Hà Giang (Nguyễn Thị Hằng Nga, 2011) [29]; Cảnh huống ngôn ngữ của người Nùng Vẻn ở huyện Hà Quảng - Cao Bằng (Đoàn Thị Hiền, 2019) [9]; Tình hình sử dụng ngô ngữ của người Na Mẻo ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Nguyễn Đức Anh 2019) [1],… Những công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã khái quát được về những khía cạnh khác nhau của cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của một ngôn ngữ cụ thể, của một DTTS cụ thể ở Việt Nam. Mỗi DTTS sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình ở những hoàn cảnh và mục đích giao tiếp khác nhau như: trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình; trong sinh hoạt cộng đồng ở nhà văn hóa thôn, bản, xã; ở huyện; trong công tác truyền thông, bản tin, trong trường học,. Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau đối với từng DTTS, song hầu hết các tác giả đều đưa ra những thông tin và thu thập được những số liệu cụ thể. Từ đó, có thể khẳng định tình hình sử dụng ngôn ngữ ở các DTTS ở nước ta hiện nay khá phức tạp, cần tiếp tục có nhiều công trình nghiên cứu để đưa ra những giải pháp cụ thể, thích hợp với từng vùng miền, từng dân tộc,.
Qua phần tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, có thể thấy, vấn đề này trước đây và hiện nay vẫn đang rất được quan tâm. Ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra những đánh giá quý báu, tạo cơ sở cho những công trình nghiên cứu về sau. Trong luận văn này, tác giả cũng tập trung vào nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn 9 ngữ, cụ thể là tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nội dung mà luận văn hướng tới là tìm hiểu về thực trạng, phạm vi sử dụng các ngôn ngữ của người Arem.
Môi trường ngôn ngữ của người Arem là môi trường đa ngữ. Vì vậy, luận văn có thể xác định chức năng - vị thế của ngôn ngữ Arem so với các ngôn ngữ khác. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dân tộc Chứt, ngôn ngữ và tộc người Arem Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Chứt trên các lĩnh vực khác nhau như văn hóa học, lịch sử học, ngôn ngữ học,. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như: Trần Trí Dõi, (1983), Góp phần phân chia phương ngôn tiếng Chứt [3]; Nguyễn Văn Mạnh (1982), Người Chứt ở Bình Trị Triện, Tạp chí thông tin Đại học Tổng hợp Huế, số 2.
Các công trình trên đã cho thấy thực trạng về bức tranh đời sống văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt, đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào.