Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm và một số vấn đề về song ngữ 1. Khái niệm song ngữ Song ngữ(Bilingual) được hiểu là việc sử dụng song song hai ngôn ngữ. Người sử dụng song ngữ tức là người có thể sử dụng hai ngôn ngữ song song trong cuộc sống hàng ngày bao gồm: nghe, nói, đọc, viết và hơn thế nữa là có thể cảm nhận bằng cả hai ngôn ngữ đó.
Phần lớn, những người sử dụng song ngữ thường có kiến thức ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ thứ nhất – hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ hơn ngôn ngữ thứ hai. Tuy nhiên, cũng có phần không nhỏ, có thể sử dụng cả hai thứ tiếng song song bằng nhau; điều này xảy ra với những người không có tiếng mẹ đẻ(SWONAL – Speaker Without A Native Language). Những người không có tiếng mẹ đẻ là những cá nhân bị thay đổi ngôn ngữ liên tục khi còn bé do quá trình đi chuyển hoặc do sự kết hôn giữa các dân tộc khác nhau tạo nên. Hiện tượng song ngữ Hiện tượng song ngữ(Bilingualism) là hiện tượng một người, một khu vực hay một dân tộc sử dụng song song hai ngôn ngữ cùng một lúc.
Như vậy, có thể thấy rằng hiện tượng song ngữ có thể chia thành hiện tượng song ngữ cá thể và hiện tượng song ngữ xã hội. Hiện tượng song ngữ và chế độ song ngữ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hiện tượng song ngữ là hiện tượng cộng đồng ngôn ngữ hoặc một bộ phận thành viên cùng sử dụng hai ngôn ngữ, còn chế độ song ngữ là quy định về việc sử dụng ngôn ngữ; nói cách khác, chế 14 độ song ngữ chính là chính sách về đào tạo song ngữ tại một khu vực, lãnh thổ hay quốc gia. Hiện tượng song ngữ xuất hiện do các lý do khác nhau như: vấn đề đào tạo song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn,.
Như vậy, hiện tượng song ngữ là hệ quả tất yếu dưới tác động của hàng loạt các nhân tố kể trên. Trong đó nổi lên một số nguyên nhân chính như: Nguyên nhân đầu tiên kể đến là sự cộng cư của những người nói các ngôn ngữ khác nhau. Những người dùng ngôn ngữ khác nhau nhưng lại cùng chung sống với nhau trên cùng một lãnh thổ. Hiện tượng cộng cư do nhiều lý do nhưng lý do quan trọng nhất là xuất phát từ tình trạng di dân từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác.
Lịch sử cho thấy, hiện tượng di dân do nguyên nhân về kinh tế, chiến tranh hay chính trị. Chẳng hạn, trong suốt thế kỷ XX đều có sự di dân của người Việt ra nước ngoài, tại nước ngoài dù muốn hay không người Việt cũng sống trong môi trường song ngữ tiếng Việt- tiếng của nước sở tại. Việt Nam có đến 54 dân tộc thiểu số cùng chung sống với nhau, không biệt lập mà xen kẽ trải dài từ Bắc đến Nam. Theo số liệu điều tra năm 2009, ở các tỉnh miền núi phía Bắc có tới 20 trong số 107 các huyện có từ 10 dân tộc trở lên cùng sinh sống.
Đa số các xã có từ 3 - 4 dân tộc cùng cư trú. Số xã có duy nhất một dân tộc cư trú chỉ chiếm khoảng 2,7%. Chính đặc điểm này đã khiến cho trạng thái song ngữ ở Việt Nam trở nên rất đa dạng. Nguyên nhân thứ hai chính là sự thay đổi về chính trị trong các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái song ngữ.
Ví dụ: Liên Xô (cũ) trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, tiếng Nga được 15 coi là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc. Tại các nước Cộng hòa, bên cạnh tiếng Nga là ngôn ngữ quốc gia, các ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng trong giao tiếp. Chính sách này đã tạo nên một trạng thái song ngữ bằng sự phân bố chức năng giữa tiếng Nga và tiếng dân tộc khá đa dạng. Tuy nhiên từ tháng 8/1991, sau khi Liên Xô bị tan rã, tình hình song ngữ đã phát triển theo chiều hướng rất phức tạp do các nước Cộng hòa vùng Ban Tích tách ra thành quốc gia độc lập và theo đó, vị thế của các ngôn ngữ vốn là ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã thay đổi, lại “trở thành ngôn ngữ quốc gia độc lập”, còn tiếng Nga trở thành ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở các nước Cộng hòa này.
Nguyên nhân thứ ba chính là do chính sách song ngữ trong các cộng đồng dân tộc. Như đã biết, đào tạo song ngữ là để tạo nên trạng thái song ngữ cá nhân. Tuy nhiên, một số cá nhân không thể nào làm nên xã hội song ngữ. Chính vì thế, đào tạo song ngữ cộng đồng đang đẩy nhanh để tạo ra sự phát triển song ngữ xã hội.
Hiện tượng này có thể nhận thấy ở chính sách đào tạo ngoại ngữ của một số quốc gia.22 Ví dụ, việc dạy tiếng Anh, Nga, Pháp, Hán,. trong các trường phổ thông và đại học ở Việt Nam đã tạo nên một trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng nước ngoài. Hiện tượng song ngữ xã hội nhờ đào tạo có thể thấy rõ ở các vùng dân tộc thiểu số. Do nhu cầu giao tiếp và nhu cầu của cuộc sống, người dân tộc thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ học ngôn ngữ giao tiếp chung - tiếng Việt.
Vì thế, hiện tượng song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số xuất hiện Hoàng Quốc (2015), “Đào tạo ngôn ngữ trong trường phổ thông vùng dân tộc Khmer (An Giang)”, Tạp chí 22 Ngôn ngữ, số 5. Một số vấn đề về song ngữ Khi nói về song ngữ, người ta chỉ tập trung vào các cá nhân song ngữ với mục đích là làm sao để một người nào đó có thể học và sử dụng một ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ. Về sau, dưới sự phát triển của khoa học ngôn ngữ, sự ra đời của chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội, khái niệm song ngữ được mở rộng và đặt ra một số vấn đề sau: Thứ nhất, thuật ngữ đa ngữ (multilingualism) xuất hiện khi xu hướng người biết không chỉ hai ngôn ngữ ngày càng tăng. Dù vậy, theo thói quen, người ta sử dụng thuật ngữ song ngữ hoặc thuật ngữ đa ngữ cho cùng hiện tượng vừa nêu.
Như vậy, sử dụng song ngữ cũng chính là sử dụng đa ngữ (chứ không phải theo nghĩa đen “song” là “hai”) và khi sử dụng đa ngữ cũng chính là song ngữ (bilingualism). Thứ hai, song ngữ không chỉ tồn tại riêng lẻ ở một cá nhân. Chính vì thế, khi nói đến song ngữ là nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng. Ở đó, các cá nhân song ngữ sử dụng những ngôn ngữ mà họ biết để trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau, các ngôn ngữ trong cộng đồng có thể tương tác với nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội.
Bởi thế, song ngữ xã hội có thể hiểu “là hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ trong xã hội song ngữ” 23 Tức là hai hay trên hai ngôn ngữ cùng hành chức trong một cộng đồng người. Cộng đồng song ngữ có thể là một nhóm người, một quốc gia, một khu vực hoặc thậm chí là cả thế giới. Thứ ba, yếu tố quan trọng nhất liên quan đến song ngữ xã hội là nhất định phải có người song ngữ. Có thể hiểu người song ngữ là người có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ, “là nắm 23 Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.38 17 một cách có hiệu quả hai hoặc trên hai ngôn ngữ”24 Theo Fishman,J.A (1996), song ngữ là phản ánh sự biết cách nói năng trong giao tiếp nhờ vào phương tiện của hơn một ngôn ngữ.
Như vậy, thế nào là “biết” - năng lực song ngữ của người song ngữ? Hiện tại, có hai quan niệm như sau: Nếu năng lực sử dụng ngôn ngữ của người song ngữ thành thạo đến mức họ có thể sử dụng hai ngôn ngữ thuần thục như nhau, nghĩa là họ có thể tư duy mà không cần phải qua khâu phiên dịch, kiểu người song ngữ này gọi là người song ngữ hoàn toàn hay người song ngữ đầy đủ. Tuy nhiên, trên thực tế, những người thuộc loại song ngữ hoàn toàn rất hiếm bởi việc nắm vững hoàn toàn hai ngôn ngữ như nhau là rất ít gặp. Kể cả người đơn ngữ (ngôn ngữ thứ nhất đồng thời là tiếng mẹ đẻ) cũng chưa chắc nắm vững hoàn hảo toàn bộ vốn từ với mọi phong cách giao tiếp. Theo Gai Xingzhi (1997), chỉ có những trẻ em sinh ra ở môi trường song ngữ thì mới có hi vọng là người song ngữ hoàn toàn.
Vì vậy, có thể coi đây là song ngữ lí tưởng và những song ngữ thuộc loại này là song ngữ lí tưởng. Ngoài kiểu người song ngữ hoàn toàn thì bên cạnh đó còn có kiểu người song ngữ không hoàn toàn hay người song ngữ bộ phận. Họ là những người ngoài biết tiếng mẹ đẻ có thể biết thêm ngôn ngữ khác ở mức độ đủ để trao đổi với một lĩnh vực nào đó mà họ quan tâm. Ví dụ, người nghiên cứu ngôn ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp xung quanh nội dung chuyên môn về ngôn ngữ mà họ nghiên cứu.
Đây là kiểu song ngữ phổ biến ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ trên thế 24 Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Với cách hiểu này, việc nghiên cứu song ngữ cũng như những vấn đề liên quan đến song ngữ được mở rộng hơn, đặt ra nhiều vấn đề hơn. Thứ tư, khi nói đến hiện tượng song ngữ, là nói đến một ngôn ngữ gọi là “ngôn ngữ thứ nhất” và nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta sẽ nghĩ ngay đó là tiếng mẹ đẻ (mother tongue). Vậy, thế nào là tiếng mẹ đẻ? Hiểu đơn giản, tiếng mẹ đẻ là thứ tiếng của cha mẹ mình, của dân tộc mình.
Tuy nhiên, trên thực tế lại không đơn giản như vậy. Ví dụ, một đôi vợ chồng người Việt sinh con ở Trung Quốc và đứa trẻ đó ngay từ khi sinh đã học nói tiếng Trung Quốc, lớn lên chỉ biết sử dụng tiếng Trung Quốc để giao tiếp mà không hề biết tiếng Việt thì tiếng mẹ đẻ của nó là tiếng Việt hay tiếng Trung Quốc? Một ví dụ khác, một người đàn ông Trung Quốc kết hôn với người phụ nữ là người dân tộc Khmer ở Việt Nam và đứa trẻ sinh ra chỉ biết nói tiếng Việt (không biết nói tiếng mẹ đẻ của cha mẹ là tiếng Trung Quốc và tiếng Khmer).