chương 1. Đặc tính về nguồn gốc THTM thuộc về tác phẩm nghệ thuật, nhưng nó lại có nguồn gốc từ nhiều phương diện khác nhau trong cuộc sống con người. Trước hết, THTM trong văn chương có nguồn gốc từ thế giới hiện thực xung quanh con người: tự nhiên và xã hội. Trong tự nhiên tồn tại các sự vật và hiện tượng.
Nhà văn khi sáng tác đã quan sát, chiêm nghiệm và nhận ra ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng ở những sự vật và hiện tượng trong hiện thực xung quanh mình. Từ đó, họ căn cứ vào những sự vật hiện tượng đó để xây dựng các THTM thông qua chất liệu là những THNN gọi tên các sự vật hiện tượng tương ứng. Thế giới hiện thực rất phong phú và đa dạng là nguồn gốc, là cơ sở rất sinh động cho các THTM trong văn chương. Nhân vật Chí Phèo và làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí Phèo bất hủ được Nam Cao lấy từ hiện thực ở quê hương ông.
Đó là một ngôi làng cổ, dân ở đây hễ thấy Chí kêu la, chửi rủa liền ùa đến xem, nhưng về sau lại không ra nữa. Chí Phèo sinh ra trong một cái lò gạch cũ kĩ, khi cất tiếng khóc chào đời đã bị rũ bỏ không thương tiếc. Hình ảnh "lò gạch" xuất hiện ở cả đầu và cuối câu chuyện. Lúc đầu, cái lò gạch này rất nhiều người qua, nhưng sau khi Chí chết thì nó đã bị bỏ không, vắng người qua lại.
Các sự vật nhân tạo và các hiện tượng xã hội trong cuộc sống của con người cũng là nguồn gốc cho các THTM. Đối với văn chương, nhiều sự vật, hiện tượng bình thường trong xã hội loài người đều là nguồn gốc cho các THTM. Cũng có thể khẳng định, không một sự vật, hiện tượng nào trong thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh con người không thể là đề tài cho sự sáng tác, là nguồn gốc 14 cho các THTM trong văn chương, miễn là nhà văn quan sát, phát hiện ra giá trị thẩm mĩ tiềm ẩn của chúng. Nguồn gốc của các THTM trong văn chương còn có thể là những chi tiết, sự kiện, những điển tích hay những sản phẩm tinh thần thuộc đời sống văn hóa của từng dân tộc hay toàn nhân loại.
Đây cũng là nguồn vô tận cho cảm hứng sáng tạo, cho các THTM của các nhà văn thuộc thế hệ đi sau. Tính cấp độ Các nhà nghiên cứu có quan điểm về phân chia cấp độ THTM khác nhau. Có quan điểm phân biệt THTM với hình tượng thẩm mĩ, khi đó THTM là các yếu tố tạo nên hình tượng thẩm mĩ. Phần đông cho rằng, THTM được phân chia thành hai cấp độ.
Cấp cơ sở (TH đơn, TH vi mô) là những THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan. Đó là những THTM có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở cấp độ cao hơn. THTM đơn trong tác phẩm văn chương được tạo nên bằng các từ hay cụm từ, có thể là những từ ngữ, thành ngữ, điển cố hay những hình ảnh đơn lẻ, mang ý nghĩa thẩm mỹ. Đỗ Hữu Châu viết: “Phương tiện sơ cấp của văn học là các tín hiệu thẩm mỹ.
Rồi cái THTM đó mới được thể hiện bằng các THNN thông thường…” [23, tr. Cấp độ xây dựng (TH phức, TH vĩ mô): THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tượng. được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản những THTM đơn.de Saussure đã chỉ ra rằng: "Thường chúng ta không nói bằng những tín hiệu riêng lẻ mà bằng nhóm những tín hiệu, bằng khối có tổ chức cũng là tín hiệu" [66, tr. Nói cụ thể hơn, THTM phức là tổ hợp của nhiều tín hiệu đơn (mang ý nghĩa thẩm mĩ); đó có thể là những hình tượng văn học- nhân vật trong tác phẩm kể cả một tác phẩm đồ sộ.
Theo đó, THTM người nông dân trong hệ thống các truyện ngắn Nam Cao thuộc loại TH phức bởi nó bao hàm nhiều THTM đơn, THTM phức với nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau. Tính biểu trưng Là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện. Đây là mối quan hệ có lý do, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM 15 trong tác phẩm. Theo Đỗ Hữu Châu [19, tr.
103] “tính biểu trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận”. Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó. Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi.” (Dẫn theo [7, tr. Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực.
Mặt khác, đó là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận. Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có lý do trong THTM nói chung. Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội. gắn với một cộng đồng nào đấy, từ đó hình thành ý nghĩa xã hội nào đó, được cả cộng đồng chấp nhận.
THTM Chí Phèo đã đi vào đời sống và trở thành một cái tên để chỉ những kẻ lưu manh côn đồ hung dữ. Trong ngôn ngữ đời thường và trong văn chương, cái tên Chí Phèo được dùng để gọi về một người nào đó với sự khinh miệt. Danh từ Chí Phèo đã thành một tính từ để chỉ một kiểu người đặc biệt trong xã hội mà người ta đã quen dùng. Đó là loại người thô bạo, hay ăn vạ, say rượu triền miên rồi gây sự, chửi đổng… có nhiều nét giống nhân vật Chí Phèo trong truyện.
Tính truyền thống và cách tân Theo Đỗ Hữu Châu: “Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện chứng của THTM” [21]. Nói đến tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính lặp lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc. Nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, thậm chí là trong từng tác phẩm. Nếu không có sự cách tân thì THTM sẽ trở nên bị mài mòn, bị mất đi giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc.
Trái lại, nếu không có tính truyền thống thì THTM sẽ bị mất đi những điều kiện nhất định về mặt liên tưởng giúp ích cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm. Khi bàn đến những cách tân nghệ thuật của Nam Cao, người đọc nhận thấy cuộc sống được phản ánh trong thế giới nghệ thuật của ông ảm đạm quá. Bước vào đó ta như lạc vào một vườn cây ăn quả già cỗi lúc hết mùa. Nhưng Nam Cao không mất lòng tin vào cuộc sống: Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay 16 vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác [84, tr.
Cái nghĩa khác mà Nam Cao từng làm nổi bật qua toàn bộ sáng tác của ông là sự đảo lộn của những giá trị làm nảy sinh muôn vàn sự vô lí và phi lí trong quan hệ giữa người và người. Ông cũng không làm mất lòng tin của người đọc vào con người và cuộc sống. Bởi với Nam Cao, sáng tác nghệ thuật cũng có nghĩa là nghiên cứu, khám phá cái lí của mọi sự phi lí, là tìm cách bóc đi cái vỏ phi lí trùm lên cuộc đời để cho con người hiểu biết lẫn nhau và xích lại gần nhau. Đó là gì, nếu không phải là chủ nghĩa nhân đạo cao cả và chủ nghĩa hiện thực chân chính tất yếu dẫn tới sự phá vỡ mọi khuôn phép và luật lệ.
Nam Cao đã tìm tới loại sự kiện “vô sinh”, “hữu nhân vô quả”, loại “hoa điếc” của đời sống để tổ chức thành truyện kể. Ông đem sự kiện mang biến cố thả vào vào dòng chảy của những cái ngẫu nhiên, đưa cái kết cục truyện kể trở về trạng thái cân bằng tiền biến cố. Bằng cách ấy, ông dỡ bỏ cái khung “cố sự” của truyện kể, giải phóng việc mô tả con người khỏi những luật lệ khắt khe của mô hình nghệ thuật lí tưởng và chức năng khái quát tính cách thuần túy của nhân vật văn học. Những yếu tố truyền thống mang tính cố định, ổn định khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ có sức khơi gợi thẩm mĩ lớn lao.
Cái mới trong cách sử dụng THTM có thể được thể hiện ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM có sẵn mang lại cho chúng những YNTM mới. Điều này chỉ có được thông qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Các THTM về người nông dân cụ thể trong truyện của Nam Cao như Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, vợ chồng anh đĩ Chuột, Lộ… đều giống nhau, giống với muôn triệu người nông dân Việt xưa ở số phận nghèo hèn cùng cực nhưng mỗi người lại có cảnh ngộ cụ thể rất khác nhau, tính cách rất khác nhau, không ai giống ai. Nói các THTM này vừa có tính truyền thống vừa có tính hiện đại là vì vậy.
Tính đẳng cấu Đẳng cấu là sự giống nhau về quan hệ, về nội dung nhưng khác nhau về hình thức biểu hiện.Philipiep đã rất chú ý tới đặc tính về sự đẳng cấu thông tin của THTM khi cho rằng: "Những biểu hiện vật lí của TH có thể khác nhau 17 nhưng ý nghĩa của TH vẫn chỉ là một." (Dẫn theo [81, tr. Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: “Rất nhiều THTM được sử dụng trong văn học, trong hội họa, trong điện ảnh, trong âm nhạc như những tín hiệu đồng nghĩa (có thể là đồng cảm xúc), chỉ khác nhau ở sự thể hiện bằng các chất liệu riêng của từng ngành" [21]. Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của các TH trong hệ thống. Theo Phạm Thị Kim Anh: “Nghĩa của từng tín hiệu là khác nhau, quan hệ nghĩa giữa các tín hiệu trong từng cặp cũng khác nhau, song nếu cùng đặt vào trong một hệ thống nào đó, chúng lại có quan hệ, ý nghĩa, cảm xúc giống nhau” [1, tr.
Điều này cho phép chúng ta đặt các TH trong quan hệ với các yếu tố cấu thành tác phẩm, ở phương diện trực tuyến, lại có thể xem xét trên trục đồng đại hay lịch đại.