CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1. Khái quát một số vấn đề lí thuyết về tên người 1. Khái quát về tên riêng Trong các loại tên riêng, tên riêng chỉ người là đối tượng quan trọng nhất. Vì nó có chức năng gọi tên riêng biệt của con người cụ thể trong hoạt động giao tiếp.
Đồng thời nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, như: ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học và xã hội học. Mỗi cộng đồng dân tộc trong một quốc gia, hay các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống ngôn ngữ riêng và có những đặc điểm văn hóa độc đáo khi đặt tên cho con người. Nghiên cứu về tên riêng nhân vật là một vấn đề độc đáo, đem lại sức hấp dẫn cho tác phẩm. - Tên người thông thường (bao gồm cả họ, tên đệm và tên cá nhân hoặc có các thành tố khác, như : tên hiệu, tên tự, bút danh…).
Ví dụ : tên người Việt: Trần Phú, Nguyễn Đình Chiểu, Hữu Thỉnh, Tố Như, … tên nước ngoài phiên âm qua tiếng Việt: Đỗ Phủ, Lỗ Tấn, Valađimia I Lích Lê Nin, …. - Tên gọi vua chúa, quan lại, trí thức phong kiến được cấu tạo theo kiểu danh từ chung (đế, vương, tông, tổ, hầu, tử, phu tử…) kết hợp với các danh từ riêng. Ví dụ : Hưng Đạo Vương, Mai Hắc Đế, La Sơn Phu Tử, … - Tên người cấu tạo bằng cách kết hợp các bộ phận vốn là danh từ chung (ông, bà, thánh, nghè, cử, tú, đồ, đề, đội…) với bộ phận tên gọi cụ thể. Ví dụ : Ông Gióng, Tú Xương, Đồ Chiểu, ….
- Tên các nhân vật trong các tác phẩm văn học. Ví dụ : Chí Phèo, Lang Rận, Xuân Tóc Đỏ, Tràng, Mị, A Phủ … - Tên dân gian thường gọi hoặc suy tôn đối với một nhân vật nổi tiếng. Ví dụ : Bà Huyện Thanh Quan, Bà Chúa Thơ Nôm,. Ai sinh ra cũng có một cái tên để gọi, để phân biệt với người khác.
Cái tên có thể mang một ý nghĩa riêng của nó. Cho nên, việc đặt tên cho con rất quan trọng, trở thành một nét văn hóa của người Việt. Xã hội ngày càng phát 10 triển việc đặt tên cho con càng được người Việt quan tâm chú trọng. Tên gọi không chỉ để xưng danh mà tên gọi là một trong những yếu tố phản ánh rõ nét dấu hiệu của văn hóa gia đình.
Nó liên quan đến truyền thống gia đình, nếp sống gia đình, tín ngưỡng, ước mơ, quan niệm giáo dục và học vấn của cha mẹ. Một người có thể có nhiều tên. Việt Nam thời Trung đại, ngoài tên tục hay húy do cha mẹ đặt tên bộ (tên ghi vào sổ bộ đinh hàng giáp) [46; tr.227], tên tự, tên hiệu, tên thụy… Ngày nay thì có tên chính trong giấy khai sinh, ngoài ra còn có tên thường gọi, biệt danh, bút danh…. Chẳng hạn : Nhà thơ Tản Đà – tên khai sinh Nguyễn Khắc Hiếu, bút danh Tản Đà gắn liền với núi Tản, sông Đà, hai địa danh của quê hương nhà thơ.
Nhà văn Tô Hoài – tên khai sinh là Nguyễn Sen, bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Tên Tự là tên đặt cho người con trai, khi người đó đã đủ mười năm tuổi, có thể do cha mẹ đặt hay bản thân đương sự đặt ra bằng cách chiết tự từ tên chính (tên Húy). Tên Tự bao giờ cũng có hai chữ bằng chữ Hán. Ý nghĩa của tên tự do ý nghĩa của tên chính mà có.
Và tên này thường chỉ có những người có học hoặc gia đình khá giả đặt. Ví dụ: Nguyễn Thanh Minh, tự Thanh Quang. Quang là ánh sáng, Thanh Quang là ánh sáng trong lành được đặt làm tên tự, do tên Minh theo Hán ngữ có nghĩa là sáng sủa do chữ nhật (mặt trời) và chữ nguyệt (mặt trăng) hợp thành. Tên Hiệu: là tên vốn để gọi chỗ ở, nhà ở, nơi đọc sách, viết văn và đôi khi là để thể hiện tâm chí của cá nhân.
Ví dụ: Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai. Nguyễn Du hiệu là Thanh Hiên, Cao bá Quát, hiệu Cúc Đường. Lê Quý Đôn hiệu Quế Đường, … Tên Thụy: Là tên dùng sau khi qua đời (ngày nay không còn dùng loại tên này). Tên hèm thường là do dân đặt, được tự chọn khi tuổi về già và để khi qua đời dùng để cúng giỗ và thờ phụng.
Tên thường gọi: có thể là tên chính, cũng có thể là một tên khác mà người trong gia đình và xã hội gọi hàng ngày. 11 Ngoài ra, ngày nay chúng ta còn có thêm nhiều loại tên khác như: biệt danh, bí danh, bút danh, bút hiệu (danh hiệu của nghững người cầm bút: nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu… Ví dụ Vũ Trọng Phụng có bút danh Thiên Hư, Nguyễn Kim Thành bút danh là Tố Hữu), nghệ danh (danh hiệu của các diễn viên sân khấu, điện ảnh, ca sĩ, nhạc công…), pháp danh (tên đạo…). Một số vấn đề về tên riêng người Việt 1. Cấu tạo của tên riêng người Việt Trong hệ thống từ vựng của tiếng Việt cũng như từ và các đơn vị tương đương với từ, tên người Việt cũng được xem là một đơn vị định danh.
Chức năng của chúng dùng để gọi tên người. Trong số các kiểu tên gọi người, tên chính danh của người Việt là một loại tên gọi có cấu trúc phức hợp dưới hình thức một nhóm hay một tổ hợp các yếu tố có cấu trúc và chức năng khác nhau. Theo Phạm Tất Thắng [45; tr.80], Tên riêng (tên chính danh) người Việt được tạo thành từ ba yếu tố có cấu trúc và chức năng riêng. Đó là yếu tố Họ, yếu tố Đệm và yếu tố Tên cá nhân.
Đây là những đơn vị định danh biệt lập hoặc có giá trị biệt lập. Trong bài nghiên cứu này, Phạm Tất Thắng đã đưa ra mô hình cấu trúc tổng quát của tất cả các trường hợp định danh người Việt: Họ - Đệm - Tên cá nhân - Danh tố Họ: Danh tố Họ (còn gọi là tên Họ) luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong cấu trúc của tổ hợp. Như vậy nếu so sánh vị trí của tên họ người Việt với vị trí của tên họ trong tên gọi của các dân tộc khác trên thế giới, thì tên họ của người Việt đứng ở vịt trí thứ nhất. Trong khi đó vị trí của tên họ trong tên gọi của một vài dân tộc ở châu Âu lại đứng ở vị trí cuối cùng trong cấu trúc tên.
Chẳng hạn như trong tên gọi của một người Anh là John E. Smith thì Smith là tên họ, … Chức năng cơ bản của danh tố họ là dùng để gọi tên họ (hay dòng họ) của đối tượng được mang tên. 12 Họ là một tập hợp người có mối quan hệ với nhau về huyết thống. Họ còn là một tập hợp những người có quan hệ với nhau theo trật tự, tôn ti.
Do vậy, nói đến họ là nói đến tên riêng của cả một nhóm người. Tên họ của người Việt có cả cấu trúc đơn và kép. Cụ thể như sau: + Tên họ đơn: là các tên họ chỉ tồn tại dưới hình thức đơn âm tiết (tiếng, chữ), tức họ đơn chỉ gồm một thành tố. Trước đây và hiện nay, tên họ đơn thường được xem là hình thức tên gọi cơ bản và chủ yếu đối với tên họ của người Việt.
Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được một cách chính xác số lượng các tên họ đơn của người Việt là bao nhiêu. Các số liệu mà chúng ta biết đến chỉ là con số phỏng đoán. + Tên họ kép: là một tổ hợp đa âm tiết (thường là hai) dùng để gọi tên một dòng họ duy nhất và xác định. Ví dụ: Tôn Thất, Tôn Nữ, Nguyễn Hữu, Hoàng Phủ, … Nếu xét về mặt nguồn gốc, theo Nguyễn Kim Thản, người Kinh không có tên họ kép kiểu Âu Dương, Gia Cát, Tư Mã, … như tên họ kép của người Trung Quốc.
Có thể các tên họ kép của người Kinh được hình thành sau những tên họ đơn có sẵn. - Danh tố Đệm: Trong hệ thống tên riêng chỉ người, tên đệm cũng được xem là một đơn vị định danh dùng để gọi tên đệm của một người. Khi tham gia vào việc hình thành tên chính danh, tên đệm luôn đứng sau tên họ và trước tên cá nhân. Chức năng chủ yếu của chúng là dùng để phân biệt giới tính.
Ngoài ra tên đệm còn tham gia vào việc thể hiện chức năng xã hội và chức năng thẩm mĩ. Tên đệm thường xuất hiện dưới những hình thức sau: + Tên đệm Zero là hình thức tên đệm không hiện diện trong tên gọi (còn gọi là trường hợp không có tên đệm). Chức năng chủ yếu của tên đệm Zero là dùng để gọi tên đệm của nam. Ví dụ: Phạm Hổ, Nguyễn Lân, Nguyễn Khải… + Tên đệm là Văn và Thị là hai tên đệm xuất hiện tương đối phổ biến trong các tên gọi của người Việt.
Chức năng chủ yếu của hai tên đệm này là 13 dùng để phân biệt giới tính: Văn dùng trong tên của Nam và Thị dùng trong tên của nữ. + Các hình thức tên đệm khác Văn và Thị thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng và với số lượng không xác định. Tuy nhiên để phân biệt giới tính các hình thức tên đệm này thường được tập hợp thành từng nhóm. Chẳng hạn, để gọi tên đối tượng nam, bên cạnh tên đệm Văn còn có nhiều hình thức tên đệm khác như: Công, Duy, Đức, … - Danh tố Tên cá nhân: danh tố tên cá nhân thường được gọi là Tên, Tên riêng, Tên chính.
Trong toàn bộ cấu trúc của tên chính danh người Việt, gánh nặng khu biệt cho tính cá thể đơn nhất của đối tượng chủ yếu rơi vào danh tố Tên cá nhân. Do đó, so với các danh tố tên họ và tên đệm, tên cá nhân giữ vị trí chủ đạo và quan trọng nhất. Chính vì thế, trong các hoạt động giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp hội thoại, Tên cá nhân thường được tách ra và sử dụng một cách độc lập và có thể thay thế cho toàn bộ cấu trúc của tên gọi. Về cấu tạo, tên cá nhân có hình thức đơn âm tiết là chủ yếu (còn gọi là tên đơn).
Cấu trúc này phù hợp với đặc điểm tiếng Việt và thói quen truyền thống trong cách đặt tên và gọi tên một âm tiết (tiếng, chữ) của người Việt. Hiện nay, với thị hiếu thẩm mĩ người Việt đang ưu chuộng cách đặt tên cá nhân có cấu trúc phức hợp hơn (gọi là tên kép). + Tên đơn: là tên gọi chỉ có cấu tạo đơn âm tiết (tiếng, chữ), chỉ gồm một thành tố.