Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nhân vật trữ tình Có thể thấy, nhân vật có vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học. Thông qua nhân vật giúp khái quát tính cách, hiện thực cuộc sống, thể hiện quan niệm về cuộc đời của nhà văn. Mà trong một tác phẩm trữ tình, toàn bộ chất liệu cuộc sống và thực tại đều thể hiện qua lăng kính cảm xúc và tâm trạng của chủ thể trữ tình.
Trong đó nhân vật trữ tình chiếm một vai trò quan trọng trong tác phẩm trữ tình. Bởi khái niệm “thơ ca trữ tình” theo nghĩa mới là chỉ loại thơ ca biểu hiện cảm xúc tâm trạng. Vì vậy tác phẩm trữ tình thường phản ánh cảm xúc, tâm trạng, thế giới nội tâm con người với thực tại cuộc sống. Nên từ đó, nhân vật trữ tình chiếm vị trí không thể thiếu trong tác phẩm trữ tình.
Nói đến nhân vật trữ tình đã có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu. Trong đó nêu đầy đủ đặc điểm mang tính bản chất của nhân vật trữ tình và phổ biến là khái niệm trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” do Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa “là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức tác giả - Nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình… như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét chân dung… Đó là cái tôi được sáng tạo ra” [1,162]. Nhân vật là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Nhân vật là yếu tố khái quát hiện thực đồng thời nó như phương tiện để tác giả thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người, phong cách sáng tác dưới một hình thức biểu hiện tương ứng.
Trong cuốn “Lí luận văn học” của Phương Lựu nêu khái niệm nhân vật trữ tình như sau: “thông thường nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình. Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ 6 suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch. Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm cách nghĩ.
Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người. Đó chính là nhân vật trữ tình” [9,359]. Xem nhân vật trữ tình là “cái tôi” đã được sáng tạo ra, không nên đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình và cái tôi trữ tình bởi trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hiện như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” (Bê-lin- xki) nhà thơ tự nâng lên trên đời thường cá biệt. Nhân vật trữ tình chính là nhân vật được tác giả tái hiện qua một số sự kiện nhất định, qua những cảm xúc và suy tưởng của chủ thể sáng tác.
Nhân vật trữ tình bộc lộ chủ yếu qua yếu tố tâm trạng, cảm xúc mang đặc điểm của lịch sử và thời đại. Trong đó, ca dao thuộc thể loại trữ tình của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Đây là thể loại thơ ca trữ tình dân gian. Để hiểu rõ một bài ca dao hay tác phẩm thơ trữ tình nào đó thì ta cần phải chú trọng tìm hiểu và phân tích về nhân vật trữ tình.
Việc phản ánh hiện thực cuộc sống, thực tại đều qua lăng kính của nhân vật trữ tình thể hiện cảm xúc tâm trạng. Như vậy, nhìn chung nhân vật trữ tình là yếu tố quan trọng trực tiếp bộc lộ tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc trong một tác phẩm văn học. Nhân vật trữ tình có thể không có hình dáng, giọng nói, hành động cụ thể nhưng qua giọng điệu, cảm xúc, ý nghĩ ta có thể nhận ra được hình tượng nhân vật, đồng thời qua đó phản ánh được hiện thực cuộc sống, ý nghĩa xuyên suốt trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình trong ca dao 1.
Hệ thống nhân vật Theo giáo trình của Đỗ Bình Trị “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian” đã nêu: “Trong ca dao truyền thống, chủ thể trữ tình (tức tác giả) luôn luôn đồng nhất với nhân vật trữ tình (tức là nhân vật mà 7 cảm nghĩ của nó được diễn tả trong bài ca dao) và nhân vật ấy chỉ có một số kiểu nhất định, tương tự như trong truyện cổ tích hoặc trên sân khấu trèo cổ. So với hàng chục ngàn câu (bài) ca dao còn được truyền lại thì số lượng nhân vật trữ tình trong ca dao quả là ít ỏi” [17,196-197]. Nhân vật trữ tình trong ca dao có một số kiểu nhất định như sau: a) Cô gái và chàng trai trong quan hệ bạn bè, lứa đôi. Đó là một cô gái với thứ tình yêu trong trắng mới chớm nở ở cõi lòng đôi lứa thanh niên, ca dao có câu: “Đôi ta như lửa mới nhen, Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.” [5,47] b) Người vợ, người chồng, người mẹ, người con,.
trong đời sống gia đình. Người con gái, con dâu, người vợ trong gia đình gia trưởng. Dưới đây là lời hát ru của người bà đối với cháu làm toát lên nỗi vất vả của người mẹ trẻ với sự gian truân vì công việc: “Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về. Cái ngủ mày ngủ cho say Mẹ mày vất vả chân tay tối ngày.” [6, 157] Như trong hai câu thơ dưới đây nằm trong hệ thống những câu ca dao có cùng cấu trúc – chủ đề ca ngợi công ơn cha mẹ.
Công lao của cha mẹ thường được ví von với những biểu tượng tự nhiên lớn lao kì vĩ. Sự so sánh ấy làm nổi bật công lao trời biển của cha mẹ. “Công cha như núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.” [2,43] Hay tình cảm sung sướng giản dị nhưng lại rất yêu thương nhau của đôi vợ chồng trẻ nơi nông thôn. Dù không sống trong cảnh giàu có lụa là, gấm vóc nhưng tình cảm hai người vẫn bình dị, hạnh phúc: 8 “Đôi ta lấm tấm hoa nhài, Chồng đây, vợ đấy kém ai trên đời.
Muốn cho gần chợ ta chơi, Gần sông tắm mát, gần nơi đi về.” [4,48] c) Người lính và người vợ lính trong cảnh ngộ li biệt và xa cách hay lời than thở của người vợ có chồng đi lính được viết trong các bài ca dao trữ tình thời phong kiến của người Việt. Dưới đây là lời than thở cả người vợ và người lính, dù đây không phải là người lính chống giặc ngoại xâm thời Trần, Lê hay Quang Trung mà chủ yếu là những “lính thứ” trong thời phong kiến suy tàn thời Lê Mạt, Nguyên Sơ: “Kìa ai tiếng khóc nỉ non Ấy vợ anh lính trèo hòn đèo Ngang Chém cha lũ giặc chết hoang Để cho thiếp phải gánh lương theo chồng Gánh qua xứ Bắc xứ Đông Hết gánh cho chồng, lại gánh cho con.” [6,170-171] d) Cùng với đó là hình tượng người lao động như: người làm ruộng, người trồng dâu, người dân chài cá, ngời thợ rèn,. trong tất cả các mối quan hệ lao động, sinh hoạt và quan hệ với xóm làng, quê hương, đất nước,. “Ùm ùm tát nước gầu giai, Ruộng cao ta lại tát hai gầu sòng.
Bà con trong xóm đổi công. Đêm đêm tát nước ngoài đồng vui ghê. Hôm qua cây lúa còn se. Ngày mai, nước chảy tràn về, lúa tươi.
Cho hay muôn sự tại người, Người mà quyết chí thì trời cũng thua.” [12, 348] 9 Cảm xúc, tâm tình của nhân vật trữ tình, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh diễn xướng được bộc lộ bằng nhiều giọng điệu giận hờn, trách móc, u sầu, thương nhớ, vui tươi. Đặc điểm nhân vật trữ tình Trong ca dao “nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình đồng nhất và thường là phi cá thể hóa. Sự các thể hóa không phát triển trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng. Diện mạo của các nhân vật trữ tình trong ca dao là cái chung.
Do đặc điểm này, đồng thời do những đặc điểm Folklore về nguyên tắc điển hình hóa, tất cả các nhân vật trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng đều có tính tổng quát, khái quát rộng rãi” [10]. Như ở lời ca diễn tả tâm trạng của những người phụ nữ lấy chồng xa quê, chúng ta thường bắt gặp một chân dung tinh thần gắn tâm trạng của mình với “chiều chiều”, “ngõ sau”, “heo hút” hay “bến sông”, “cái cầu” với nỗi đau “chín chiều”, “bâng khuâng”. Tất cả các chi tiết ấy đều tiêu biểu cho những người có chung cảnh ngộ tâm trạng xa quê, nhớ nhà, nhớ cha mẹ. Dưới đây là câu thơ tiêu biểu cho nỗi nhớ này mà ai khi rơi vào cảnh ngộ này đều thấy cảm xúc mình trong đó: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.” [14,45] Như ta thấy thông qua nhân vật trữ tình trong ca dao, nhân dân muốn diễn tả hay phản ánh những nét đặc trưng gắn với con người trong thời đại ấy một cách rõ nét.
Những nét đặc trưng này thể hiện một cách tập trung ở cảm hứng trữ tình chủ đạo trong ca dao. Dù người đó là nam hay nữ, vợ hay chồng, người làm ruộng hay đánh chài cá khi có tâm trạng buồn, cô đơn, thấy sự bất hạnh của kiếp người thì đều có thể cất lên được bài ca than thân. Còn nêu cảm nghĩ về những người mình yêu mến, nhớ về những nơi thân thuộc yêu thương thì sẽ cất lên thành các bài ca yêu thương tình nghĩa về tình bạn 10 bè, tình yêu quê hương đất nước. Khi nói đến ca dao là nói đến các bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.
Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt nhân vật trữ tình với nhân vật trong ca dao trữ tình. Nhân vật trong ca dao trữ tình là đối tượng để tác giả dân gian (cũng tức là nhân vật trữ tình, như xác định ở phần trên) gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy tình cảm, tự sự của tác giả. Có trường hợp nhân vật trữ tình và nhân vật trong ca dao là một. Ví dụ: “Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.” [14, 203] “Thân em như ớt chín cây Càng tươi ngoài vỏ, càng cay trong lòng.” [14, 203] Trong hai bài ca trên là bài ca dao chỉ có nhân vật trữ tình.
Nhưng nhân vật trong ca dao trữ tình không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhân vật trữ tình: “Con cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa.