Luận văn thạc sĩ tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng việt thực trạng đặc điểm cơ chế hình thành

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, đặc điểm và cơ chế hình thành tiếng lóng trên diễn đàn trực tuyến tiếng Việt, cung cấp góc nhìn chuyên sâu về ngôn ngữ mạng.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tiếng lóng và các thuật ngữ hữu quan

Tiếng lóng được định nghĩa là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày bởi một nhóm người cụ thể. Nó xuất hiện nhằm mục đích che giấu ý nghĩa diễn đạt, chỉ những người trong nhóm mới hiểu. Tiếng lóng không mang ý nghĩa trực tiếp mà thường mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng. Các nhà nghiên cứu như Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp đã nhấn mạnh rằng tiếng lóng là công cụ giao tiếp riêng của từng nhóm xã hội, đồng thời là tín hiệu để nhận diện thành viên trong nhóm.

1.1 Định nghĩa tiếng lóng

Tiếng lóng được coi là một tiểu loại của phương ngữ xã hội, là biến thể sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ. Đỗ Hữu Châu nhận định rằng hầu như mọi tập thể xã hội đều có tiếng lóng riêng. Tiếng lóng thường được tạo ra bởi các nhóm xã hội và chỉ các thành viên trong nhóm đó biết sử dụng. Theo thời gian, tiếng lóng có thể mất tính bí mật và được xã hội hóa.

1.2 Đặc điểm của tiếng lóng

Tiếng lóng có đặc điểm là sự biến động và thay đổi theo thời gian. Nó thường được sử dụng trong phạm vi hẹp, mang tính khẩu ngữ và có thể đi vào vốn từ chung của tiếng Việt. Tiếng lóng cũng được sử dụng trong các tác phẩm văn học để miêu tả nhân vật hoặc hiện trường, nhưng việc sử dụng quá nhiều có thể phản tác dụng.

II. Diễn đàn trực tuyến và thực trạng sử dụng tiếng lóng

Diễn đàn trực tuyến là nơi người dùng Internet trao đổi, thảo luận và chia sẻ thông tin. Tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng Việt ngày càng phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ. Thực trạng sử dụng tiếng lóng trên các diễn đàn này cho thấy sự gia tăng của các hiện tượng lóng mới, phản ánh sự thay đổi trong văn hóa mạnggiao tiếp trực tuyến.

2.1 Khái niệm diễn đàn trực tuyến

Diễn đàn trực tuyến là nơi người dùng Internet có thể tạo chủ đề và thảo luận xung quanh chủ đề đó. Các diễn đàn này thường được phân loại theo chủ đề và thu hút nhiều thành viên tham gia. Diễn đàn trực tuyến là môi trường lý tưởng để tiếng lóng phát triển và lan truyền.

2.2 Thực trạng sử dụng tiếng lóng trên diễn đàn

Thực trạng sử dụng tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến cho thấy sự xuất hiện của nhiều từ lóng mới, phản ánh sự sáng tạo và thay đổi trong ngôn ngữ mạng. Tiếng lóng trên diễn đàn thường được sử dụng để tạo sự gần gũi và đồng cảm giữa các thành viên.

III. Cơ chế hình thành tiếng lóng

Cơ chế hình thành tiếng lóng dựa trên các phương thức tạo từ và chuyển nghĩa. Tiếng lóng thường được tạo ra từ các từ vựng sẵn có trong tiếng Việt, nhưng cũng có thể vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Các phương thức như ẩn dụ, hoán dụ và đồng âm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tiếng lóng.

3.1 Phương thức tạo từ lóng

Tiếng lóng được tạo ra từ các từ vựng sẵn có trong tiếng Việt thông qua các phương thức như chuyển nghĩa, đồng âm và vay mượn từ ngữ nước ngoài. Các từ lóng thường mang ý nghĩa tượng trưng và được sử dụng để che giấu ý nghĩa thực sự.

3.2 Chuyển nghĩa trong tiếng lóng

Chuyển nghĩa là một trong những phương thức chính để hình thành tiếng lóng. Các từ lóng thường được tạo ra thông qua ẩn dụ và hoán dụ, dựa trên sự tương đồng về hình thức, tính chất hoặc chức năng của sự vật, hiện tượng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng việt thực trạng đặc điểm cơ chế hình thành

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực trạng sử dụng tiếng lóng trên các diễn đàn Trong chương này chúng tôi sẽ bàn tới thuật ngữ tiếng lóng và các đặc trưng của tiếng lóng Việt. Đồng thời chúng tôi tiến hành phân biệt tiếng lóng với một số đối tượng như: thuật ngữ, tiếng nghề nghiệp, …Bên cạnh đó, những vấn đề chung về diễn đàn và thực trạng sử dụng tiếng lóng trên diễn đàn cũng được đề cập tới. Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp Ở chương này, chúng tôi tiến hành phân tích, tìm hiểu và phân loại các đơn vị lóng theo cấu tạo, từ loại và phương thức tạo từ. 6 Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa Chương cuối cùng chúng tôi giải quyết thông qua việc miêu tả, phân tích các yếu tố thuộc về ngữ nghĩa của các từ, ngữ lóng như: trường từ vựng, hiện tượng chuyển nghĩa và hiện tượng đồng âm.

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TIẾNG LÓNG TRÊN CÁC DIỄN ĐÀN 1. Tiếng lóng và các thuật ngữ hữu quan 1. Định nghĩa Tiếng lóng được coi là một tiểu loại của phương ngữ xã hội, là biến thể sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ. Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nhận xét: “Hiện tượng lóng là phổ biến với mọi tập thể xã hội.

Hầu như tất cả tập thể xã hội nào đã có cái gì chung về sinh hoạt hay sản xuất thì đều có những tiếng lóng của riêng mình.” Cách nói lóng nói chung và từ ngữu lóng nói riêng là do các nhóm xã hội “tạo ra” và chỉ các thành viên trong nhóm xã hội đó biết sử dụng: giao tiếp với nhau và hiểu được nhau, tất nhiên là có giới hạn về mặt thời gian. Thông thường, khi có một cách nói lóng mới xuất hiện, do phạm vi sử dụng rất hẹp, các thành viên trong cộng đồng xã hội đó đều có ý thức giữ bí mật (vì liên quan đến quyền lợi thiết thực của họ) nên thời gian đầu sử dụng “chưa bị lộ”. Nhưng dần dà theo thời gian cùng nhiều lí do tác động vào mà các từ ngữ lóng, cách nói lóng mất dần tính bí mật, bị xã hội hóa. Chính vì thế coi lóng có giá trị xã hội còn là vì tiếng lóng có giá trị xã hội trong phạm vi xã hội rất hạn hẹp và phần nhiều chúng thay đổi theo bối cảnh xã hội.

Có thể nói, tiếng lóng vừa là công cụ giao tiếp riêng của từng nhóm xã hội nhất định vừa là tín hiệu cho mỗi thành viên của nhóm nhận ra nhau, tìm đến nhau, hay nói cách khác, tìm được “sự đồng nhất trong mỗi nhóm”. Cho đến nay, đã có không ít định nghĩa về tiếng lóng của các nhà nghiên cứu. Chúng tôi xin dẫn quan niệm về tiếng lóng của một số nhà Việt ngữ học: - Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ tức là những tên gọi “chồng lên” trên những tên gọi chính thức. (Đỗ Hữu Châu, 1981, tr.227) 8 - Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi.

(Nguyễn Thiện Giáp, 1985, tr.228-229) - Tiếng lóng là loại ngôn ngữ chỉ cốt nói cho một nhóm người biết mà thôi, những người khác không thể biết được. Vì mục đích của biệt ngữ và tiếng lóng là che đậy việc làm không cho người ngoài nhóm biết, cho nên tất cả những từ gì có thể khiến người ta phỏng đoán được nội dung của công việc đều bị thay thế nhất là trong đám người làm nghề bất lương, bị xã hội ngăn cấm như bọn cờ bạc bịp, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu. - Tiếng lóng là một thứ tiếng ước lệ có tính chất bí mật, một lối nói kín của bọn nhà nghề dùng để giấu những ý nghĩ, việc làm của mình cho người khác khỏi biết. Nó thường có trong những hạng người làm nghề bất lương, tầng lớp lưu manh hoặc tầng lớp con buôn trong xã hội có giai cấp.

(Lưu Vân Lăng, 1960, tr.75) - Tiếng lóng chỉ gồm có một số từ. Nó không phải là công cụ giao tế của xã hội mà chỉ là một số từ với ý nghĩa bí hiểm của một nhóm người với mục đích không cho người khác biết. (Nguyễn Văn Tu, 1968, tr. - Tiếng lóng là ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội hoặc nghề nghiệp có tổ chức gồm các yếu tố của một hoặc một số các ngôn ngữ tự nhiên đã được chọn lọc và biến đổi đi nhằm tạo ra sự cách biệt ngôn ngữ với những người không liên đới.

Khác với biệt ngữ, tiếng lóng không có nghĩa xấu. Thông thường, tiếng lóng được sử dụng nhằm mục đích che giấu đối tượng giao tiếp, đồng thời là phương tiện tách biệt của một nhóm người ra khỏi phần còn lại của xã hội. (Đái Xuân Ninh – Nguyễn Đức Dân – Nguyễn Quang – Vương Toàn, 1986, tr. 9 - Nói cho giản dị thì tiếng lóng là một bộ phận từ ngữ do những nhóm, những lớp người trong xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện tượng, hành động,.

vốn đã có tên gọi trong vốn từ vựng chung, nhằm giữ bí mật trong nội bộ nhóm mình, tầng lớp mình. (Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến. - Tiếng lóng là loại ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội nhằm tạo ra sự tách biệt với những người không liên đới; sự tách biệt này có thể là nhằm mục đích giữ bí mật, nhưng cũng có thể chỉ nhằm tạo ra một nét riêng cho nhóm xã hội mình. (Đoàn Tử Huyến, Lê Thị Yến) Tống hợp các ý kiến trên, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về tiếng lóng như sau: Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, bởi một nhóm người.

Tiếng lóng ban đầu xuất hiện nhằm mục đích che giấu ý nghĩa diễn đạt theo quy ước chỉ những người nhất định mới hiểu. Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát ra mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng. Đặc điểm của tiếng lóng Việt Nam 1. Đặc điểm tạo từ, ngữ lóng Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, từ ngữ lóng tiếng Việt được hình thành trên cơ sở của vốn từ tiếng Việt.

Tức là, từ các vật liệu sẵn có và bằng các phương pháp tạo từ vốn có để tạo nên những từ ngữ lóng. Tuy nhiên, theo chúng tôi, vẫn có những từ ngữ lóng được tạo nên từ chất liệu của các ngôn ngữ khác. Điều này sẽ được trình bày và phân tích ở chương sau. Tác giả Nguyễn Văn Khang đưa ra các hình thức sau: - Có những từ ngữ lóng mới nguyên.

10 - Có những từ được gọi là từ lóng do cách gọi tách nghĩa lóng ra khỏi từ đa nghĩa để gọi riêng cho nghĩa lóng ấy. Tức là nghĩa lóng chỉ là một nghĩa trong từ đa nghĩa đó mà thôi Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị từ vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa lóng. Có thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của tiếng Việt. Có thể nhận thấy, giữa nghĩa ngữ văn với nghĩa lóng vẫn có ít nhiều những mắt xích liên tưởng ngữ nghĩa nhất định.

Theo cách cấu tạo này, nghĩa của từ lóng quan hệ với nghĩa ngữ văn vốn có. Cho nên có một điều khá lí thú là: - Nghĩa của các từ lóng, trong nhiều trường hợp, chẳng qua chỉ là sự dịch chuyển thay đổi vị trí nghĩa cho nhau. Nhưng giữa chúng có quan hệ theo kiểu nào lại phụ thuộc vào sự liên tưởng của người “sáng tạo – sử dụng” chúng. - Cũng chính nhờ đó, các hành vi xấu lại được thăng hoa bằng những ngôn từ đẹp.

Các bộ phận kín mang nội dung giới tính của cơ thể, các hành vi về quan hệ xác thịt được lóng hóa dưới dạng “uyển ngữ”. - Đây cũng là lí do dẫn đến một số đặc điểm về đồng âm, đồng nghĩa, đa nghĩa của tiếng lóng. Thực tế cho thấy mỗi nhóm xã hội tự tạo cho mình những từ ngữ lóng mang tính bí mật riêng của từng nhóm và do những liên tưởng khác nhau mà tạo nên những hiện tượng này. Nguyễn Văn Khang đã liệt kê một số trường hợp như sau: - Đồng âm – đa nghĩa - Đồng nghĩa - Trái nghĩa - Từ hóa các yếu tố tạo từ - Từ các đơn vị từ vựng nước ngoài 11 - Sử dụng tên riêng - Gán thêm “họ” cho các từ ngữ địa phương Một đặc điểm thú vị nữa là có một số từ ngữ lóng mang nặng dấu ấn của phương ngữ địa lí.

Tức là, chúng được các nhóm xã hội sử dụng tiếng địa phương của vùng đó để tạo từ lóng. Đặc điểm chức năng - Như đã nêu, tiếng lóng bao giờ cũng đi liền với nhóm xã hội cụ thể. Nói cách khác, sự sinh tồn của tiếng lóng gắn liền với sự sinh tồn nhóm xã hội sinh ra chúng, sử dụng chúng. Nói chung, mỗi nhóm xã hội với mục đích bảo vệ, giữ bí mật thông tin đã cố gắng tạo cho mình một thứ ngôn ngữ - tiếng lóng riêng.

Nhờ đó mà trong mỗi loại tiếng lóng đều chứa đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm xã hội đó. - Được dùng trong một phạm vi hẹp (trong một nhóm xã hội cụ thể) và mang tính khẩu ngữ, tiếng lóng luôn có những biến động: ở những nhóm xã hội mang tính băng đảng xã hội đen thì sự biến động, thay đổi nhằm đảm bảo an toàn, bí mật còn ở giới trẻ thì sự thay đổi chủ yếu là để “làm cho mới”. Cùng với nhiều lí do khác nữa mà tiếng lóng chỉ tồn tại theo từng thời gian cụ thể. Đây chính là thể hiện đặc trưng lâm thời của tiếng lóng (cũng là một khó khăn cho việc xác lập một bảng từ ngữ lóng trong một thời gian dài).

Tuy nhiên, trong số những từ ngữ lóng đã xuất hiện, đã có không ít từ lóng đi vào vốn từ chung của tiếng Việt. - Tiếng lóng nói chung và từ ngữ lóng nói riêng, được người viết đưa vào tác phẩm của mình, chủ yếu dưới dạng dẫn lại lời nói của nhân vật hoặc nhắc lại nhằm “miêu tả hiện trường”. Điều đó cho thấy rằng, dù được xuất hiện trong hình thức ngôn ngữ viết, nhưng lóng vẫn chỉ là lóng ở dạng khẩu ngữ mà thôi (thường được để trong ngoặc kép).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Tiếng Lóng Trên Diễn Đàn Trực Tuyến Tiếng Việt - Thực Trạng Và Cơ Chế Hình Thành là một nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng tiếng lóng trong cộng đồng mạng tiếng Việt. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng sử dụng tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến mà còn khám phá cơ chế hình thành và phát triển của chúng. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ biến đổi trong môi trường số, đồng thời nhận thức được tác động của tiếng lóng đến văn hóa giao tiếp hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về ngôn ngữ và văn hóa, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học: An investigation into the English language used on Facebook social network by Vietnamese learners of English, nghiên cứu về cách người Việt sử dụng tiếng Anh trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, Luận án ẩn dụ ý niệm màu sắc trong tiếng Việt cung cấp góc nhìn thú vị về cách màu sắc được sử dụng trong ngôn ngữ Việt. Cuối cùng, Sách chuyên khảo nghiên cứu quy luật đối ứng ngữ âm giữa âm Hán Việt và tiếng Trung Quốc hiện đại sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về mối liên hệ ngôn ngữ giữa hai nền văn hóa.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm những góc nhìn mới mẻ về ngôn ngữ và văn hóa.