Luận Văn Thạc Sĩ Về Thuế Thu Nhập Cá Nhân Đối Với Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất Tại Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam, áp dụng thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chương này tập trung phân tích cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CNQSD). Tác giả đưa ra khái niệm về thuế TNCN, nhấn mạnh đây là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân từ các nguồn khác nhau, bao gồm cả CNQSD đất. Thuế TNCN có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Đặc biệt, thuế TNCN từ CNQSD đất được xem là một trong những nguồn thu lớn, góp phần quản lý thị trường đất đai hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế TNCN

Thuế TNCN là khoản tiền mà cá nhân phải nộp vào NSNN từ các nguồn thu nhập hợp pháp. Đây là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, không thông qua hành vi tiêu dùng. Thuế TNCN có tính ổn định không cao do chịu ảnh hưởng bởi biến động kinh tế - xã hội. Đối tượng chịu thuế bao gồm cá nhân cư trú và không cư trú có thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Thuế TNCN cũng gắn liền với chính sách xã hội, thể hiện qua các khoản miễn, giảm thuế nhằm đảm bảo công bằng.

1.2. Đặc điểm của thuế TNCN từ CNQSD đất

Thuế TNCN từ CNQSD đất có những đặc điểm riêng do liên quan đến thị trường bất động sản. Thu nhập từ CNQSD đất được xác định dựa trên giá chuyển nhượng, thường biến động theo thị trường. Việc quản lý và thu thuế từ CNQSD đất gặp nhiều khó khăn do tình trạng trốn thuế, lách thuế phổ biến. Đồng thời, thuế TNCN từ CNQSD đất đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường đất đai, hạn chế đầu cơ và tăng nguồn thu cho NSNN.

II. Thực trạng pháp luật thuế TNCN đối với CNQSD đất tại Quảng Nam

Chương này phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng thuế TNCN từ CNQSD đất tại tỉnh Quảng Nam. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù pháp luật thuế đã được hoàn thiện, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Quảng Nam là địa phương có thị trường đất đai sôi động, dẫn đến số lượng giao dịch CNQSD đất tăng nhanh. Tuy nhiên, việc quản lý thuế tại địa phương còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng thất thu thuế. Các biện pháp quản lý thuế chưa đủ mạnh để ngăn chặn hành vi trốn thuế, lách thuế.

2.1. Thực trạng pháp luật thuế TNCN

Pháp luật thuế TNCN từ CNQSD đất tại Việt Nam đã được quy định trong Luật Thuế TNCN năm 2007 và sửa đổi năm 2012. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng. Đặc biệt, việc xác định giá chuyển nhượng đất đai thường không chính xác, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc tính toán và thu thuế. Ngoài ra, các quy định về miễn, giảm thuế cũng chưa được áp dụng hiệu quả, dẫn đến tình trạng bất công trong việc đóng góp thuế.

2.2. Thực tiễn áp dụng tại Quảng Nam

Tại Quảng Nam, thị trường đất đai phát triển mạnh, kéo theo số lượng giao dịch CNQSD đất tăng nhanh. Tuy nhiên, việc quản lý thuế tại địa phương còn nhiều hạn chế. Các cơ quan thuế gặp khó khăn trong việc kiểm soát các giao dịch, dẫn đến tình trạng thất thu thuế. Ngoài ra, việc tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế chưa được thực hiện hiệu quả, gây khó khăn cho người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Điều này đòi hỏi cần có các giải pháp quản lý thuế hiệu quả hơn.

III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNCN

Chương này đề xuất các định hướnggiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN từ CNQSD đất. Tác giả nhấn mạnh cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Đồng thời, cần tăng cường công tác quản lý thuế, đặc biệt là việc kiểm soát các giao dịch CNQSD đất. Các giải pháp cụ thể bao gồm: hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế, và nâng cao nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật

Để hoàn thiện pháp luật thuế TNCN từ CNQSD đất, cần sửa đổi các quy định về xác định giá chuyển nhượng, đảm bảo tính chính xác và minh bạch. Ngoài ra, cần bổ sung các quy định về miễn, giảm thuế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong việc quản lý thuế, đặc biệt là các hiệp định tránh đánh thuế hai lần.

3.2. Giải pháp thực hiện tại Quảng Nam

Tại Quảng Nam, cần tăng cường công tác quản lý thuế thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, đảm bảo tính chính xác trong việc xác định giá chuyển nhượng. Ngoài ra, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế để ngăn chặn hành vi trốn thuế, lách thuế. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế thông qua các chương trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Trong khoa học pháp lý hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về thuế dựa trên khía cạnh mà họ muốn khai thác, tìm hiểm nên dẫn đến các khái niệm về thuế chưa phản ánh được đầy đủ về bản chất của thuế.

Theo một số quan điểm về thuế kinh điển: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế khóa”. Đối với quan điểm này, thuế chỉ đơn giản là phần đóng góp của công dân để duy trì hoạt động của nhà nước. Trong ấn phẩm “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ là Makkollhell và Bruy đã đưa ra một khái niệm khác về thuế dựa trên cơ sở đối giá: “Thuế là một khoản tiền chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận ra được trực tiếp hàng hóa dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa tuyên phạt do vi phạm pháp luật”. Theo khái niệm được đưa ra, thuế là một nghĩa vụ của một doanh nghiệp, một hộ gia đình phải thực hiện đối với nơi mà mình kinh doanh hoặc sinh sống, không quan tâm việc sử dụng tiền thuế như thế nào.

Nhìn từ góc độ phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm phục vụ các nhu cầu chi tiêu trong quá trình thực hiện chức năng của nhà nước. Dưới góc độ NNT, thuế là khoản tiền bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải đóng góp theo quy định pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển Tiếng Việt (trung tâm từ điển năm 1998) thì 7 “thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc tổ chức kinh doanh tùy theo tài sản thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định pháp luật”.

Mặc dù có nhiều quy định khác nhau về thuế nhưng có thể có một góc nhìn khái quát về thuế là một khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trích nộp cho nhà nước và gắn liền với quyền và quyền lực nhà nước, không hoàn trả trực tiếp mà được dùng để phục vụ hoạt động nhà nước và chi tiêu công cộng. Thuế hiện nay có hai hình thức: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu là thuế thu trực tiếp từ NNT gắn liên với thu nhập của NNT. Thuế gián thu là thuế thu thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ.

Thuế TNCN là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào NSNN. Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh thuế trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là trong một năm, từng tháng hoặc theo từng lần phát sinh. Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu vào ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Thuế TNCN đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh.

Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân - Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu. Bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là NNT, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác. Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của NNT nên có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn thuế, lách thuế nếu quy định mức thuế suất cao.

Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong 8 việc tập trung thu thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN. - Thứ hai, thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân. Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Một cá nhân được xem là cư trú khi đáp ứng một trong các điều kiện sau: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. Đối tượng chịu thuế là cá nhân có thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên bao gồm: thu nhập từ kinh doanh; tiền lương, tiền công; đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; bản quyền; nhượng quyền thương mại; nhận thừa kế, nhận quà tặng là tài sản; trúng thưởng; thu nhập từ Nhà nước hoặc xã hội dành cho và các khoản thu nhập khác. Thu nhập chịu thuế là những khoản thu nhập hợp pháp, thực tế đã phát sinh, có tính phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được mới đảm bảo tính khả thi, tính công bằng và đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN. - Thứ ba, thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và quá trình quản lý phức tạp.

Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo từng biến động của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Ngoài ra, các quy định như giảm trừ gia cảnh, về mức thuế suất cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có tác động rất lớn đến mức sống của người dân và chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường. Việc quản lý thuế TNCN tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác bởi ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu, tính ổn định của thu nhập. - Thứ tư, thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia.

Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác. 9 Thể hiện nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như phúc lợi, thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình NNT, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội (công cộng, chăm sóc sức khỏe),… Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì tăng hay giảm thuế suất thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế. - Thứ năm, nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế. Đây là đặc trưng của thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng.

Hầu hết thuế TNCN của các quốc gia trên thế giới không chỉ áp dụng đối với công dân của mình mà còn áp dụng đối với người nước ngoài có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó. Để tránh tình trạng đánh thuế hai lần lên một đối tượng chịu thuế, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa các quốc gia cũng là nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế TNCN. Ngoài những đặc điểm nêu trên của thuế TNCN, thuế TNCN đối với CNQSD đất có những đặc điểm riêng do sự chi phối của đối tượng nộp thuế là thu nhập phát sinh từ CNQSD đất. Thuế TNCN đối với CNQSD đất được xác định bằng giá CNQSD đất theo từng lần chuyển nhượng.

Trường hợp không xác định được giá chuyển nhượng thì thu nhập chịu thuế được xác định theo giá ghi trong hợp đồng giao dịch, nếu giá chuyển nhượng thấp hơn giá đất do Nhà nước quy định thì lấy giá đất do Nhà nước quy định làm căn cứ chịu thuế. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ CNQSD đất là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực. Tính đặc thù của thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất - Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Vì vậy nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.

Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang 10 cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế; việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác. Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của NNT nên nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao. Không giống như các loại thuế gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lí của người mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế trực thu có ảnh hưởng mạnh về tâm lí NNT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Quảng Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách thuế liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế và đô thị hóa hiện nay. Tác giả phân tích các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức quản lý thuế, cũng như những tác động của nó đến thị trường bất động sản và quyền lợi của người dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đất đai và thuế, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về minh bạch và công khai trong bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và thực tiễn áp dụng, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về quy trình bồi thường và hỗ trợ tái định cư. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng một số yếu tố đến công tác phát triển quỹ đất phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị thành phố pleiku tỉnh gia lai sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển quỹ đất. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về thu tiền sử dụng đất tiền thuế đất và thực tiễn áp dụng tại huyện yên châu tỉnh sơn la sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thuế đất và thực tiễn áp dụng tại một địa phương cụ thể. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.