Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn; Chương 2: Thực trạng và các nhân tố tác động đến việc sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội; Chương 3: Hệ quả của việc sử dụng rượu, bia và xu hướng sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội và một số khuyến nghị. Hạn chế của đề tài Do đặc điểm của đề tài là sử dụng số liệu có sẵn và đây là một nghiên cứu chung về tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên Hà Nội, không phải là cuộc nghiên cứu riêng về việc sử dụng rượu, bia trong thanh thiếu niên Hà Nội nên luận văn chưa đủ các bằng chứng để giải thích một số vấn đề cần làm rõ trong đề tài. Bên cạnh đó, do đây là một nghiên cứu cắt ngang nên khó xác định được yếu tố nào xảy ra trước, yếu tố nào xảy ra sau, trong khi đó trong phần phân tích hồi quy lại tìm hiểu yếu tố nào xảy ra trước, yếu tố nào xảy ra sau, yếu tố nào tác động đến yếu tố nào nên kết quả phân tích không được như mong đợi. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG RƢỢU, BIA 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG RƢỢU, BIA 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 1.1 Sử dụng rƣợu, bia Khái niệm sử dụng rượu bia trong nghiên cứu này được định nghĩa là: Thanh thiếu niên đã có ít nhất 01 lần uống rượu, bia tính đến thời điểm điều tra.2 Lạm dụng rƣợu, bia Lạm dụng rượu, bia được xác định theo quy chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới: Nam uống trên 3 đơn vị rượu/ngày (Một đơn vị rượu tương đương 10 gram rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống – pure nit of alcohol = 01 cốc chuẩn. Một cốc chuẩn tương đương: 01 lon bia 330ml nồng độ 5%, 01 cốc rượu vang 125ml nồng độ 11%, 01 ly rượu vang mạnh 75ml nồng độ 11%, 01 ly rượu vang mạnh 75ml nồng độ 20%, 01 chén rượu mạnh 30ml nồng độ 30%) hoặc 21 đơn vị rượu/tuần; nữ uống trên 02 đơn vị/ngày hoặc 14 đơn vị/tuần (Tạp chí Y học thực hành (650) – Số 3/2009:40).3 Vị thành niên và thanh niên Vị thành niên là một trong những khái niệm được hiểu một cách đa nghĩa và dễ gây tranh luận nhiều cả về nội hàm lẫn ngôn từ của nó trong tư duy xã hội học. Tuỳ thuộc vào vị trí tiếp cận, góc nhìn cũng như chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà vị thành niên lại được giải thích theo một cách thức riêng. Theo, Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi".
Trong khi đó, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) được Việt Nam phê chuẩn năm 1990 lại xác 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn (Điều 1). Điều 20 Bộ luật Dân sự Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (có hiệu lực 1/7/1996) cũng quy định rằng: “. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”; Điều 22 quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên là từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và đồng thời cũng lại quy định trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Bộ luật Hình sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/ 1999, tại chương X Điều 68 quy định "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này.", tiếp đó Điều 69 khoản 5 lại có sự phân biệt trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, ở các điều luật sau, Bộ luật Hình sự lại quy định người chưa thành niên có độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi (khoản 4 Điều 111, khoản 4 điều 113) ; trẻ em có độ tuổi từ dưới 16 tuổi (khoản 1,4 Điều 112; khoản 1 Điều 114, khoản 1 Điều 115). Trong khi đó, trên khía cạnh những vấn đề về lao động và việc làm, Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (23/6/1994) lại có sự quy định như sau: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động (Điều 6), Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi (Điều 119 khoản 1). Trẻ em là người dưới 15 tuổi( Điều 120). Như vậy, ở đây, quan niệm về độ tuổi của trẻ em đã khác với luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra một tiêu chí cơ bản để chỉ nhóm vị thành niên. Đó là: “nhóm nhân khẩu xã hội có tuổi đời từ 10 đến 18 tuổi”. Trong nhóm vị thành niên nói trên, người ta lại phân nhỏ thành ba nhóm khác nữa: nhóm vị thành niên nhỏ từ 10- 13 tuổi, nhóm vị thành niên trung bình từ 14-16 tuổi, nhóm vị thành niên lớn từ 17-18 tuổi (Đặng Vũ Cảnh Linh, 2004). 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Căn cứ theo các quy định trong các luật về độ tuổi của vị thành niên và căn cứ theo cách chia độ tuổi của Tổ chức Y tế Thế giới, theo tác giả luận văn độ tuổi của vị thành niên từ 10 tuổi đến 18 tuổi là hợp lý hơn cả.
Theo Luật Thanh niên được thông qua vào ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI và được Chủ tịch nước công bố tại lệnh số 24/2005/L/CTN ngày 09/12/2005 thì độ tuổi của Thanh niên là “từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” Trong khuôn khổ của luận văn này, Vị thành niên và thanh niên được gọi chung là thanh thiếu niên, độ tuổi của thanh thiếu niên được xác định là từ 15-24 tuổi. Trong luận văn này tác giả lựa chọn thanh thiếu niên ở nhóm tuổi 15 – 24 tuổi để nghiên cứu về thực trạng sử dụng rượu, bia. Vì: Thứ nhất, trong độ tuổi 15-18, vị thành niên muốn thành người lớn, muốn độc lập nhưng lại dễ bắt chước người lớn và bạn bè các hình thức như hút thuốc, uống rượu, bia… Vị thành niên muốn suy nghĩ, hành động khác khuôn phép của người lớn nhưng lại không tự định hướng được mình, dễ bị cuốn theo cách suy nghĩ của bạn bè và những hình ảnh, câu chuyện trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở lứa tuổi này, trẻ thường có nhu cầu giao tiếp, muốn được khẳng định vị trí trong nhóm, muốn được tán thưởng.
Do đó, luận văn tập trung vào lứa tuổi này nhằm tìm hiểu nguyên nhân thúc đẩy các em tìm đến rượu, bia là gì? Và vì sao, các em lại chọn rượu, bia chứ không phải một loại đồ uống khác? Thứ hai, độ tuổi 19-24, đây là lứa tuổi có sự giao thoa giữa tuổi vị thành niên và tuổi thanh niên. Ở lứa tuổi này, mỗi cá nhân đã trải qua hàng loạt những thay đổi về thể chất, tinh thần và xã hội. Họ đã trưởng thành hơn trong việc xây dựng và củng cố hệ thống giá trị cho bản thân. Vậy lý do họ sử dụng rượu, bia là gì? Có khác gì so với nhóm tuổi 15-18? 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận xã hội hóa và cách tiếp cận tương tác – biểu trưng.1 Cách tiếp cận xã hội hóa Theo Neil Smelser: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”.
Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Chưa đề đập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội học theo. Như vậy, dường như cá tính của con người bị tan biến vào những đặc điểm xã hội mà cá nhân tiếp thu được. Một nhà xã hội học khác của Mỹ Fichter đã xem: “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”.
Như vậy, Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hóa. Định nghĩa của nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã nêu được cả hai mặt của quá trình xã hội hóa. Bà cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội.
Mặc khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội. Như vậy, mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người. Mặt thứ hai của quá trình này thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình ” (Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 2001:259). Môi trường xã hội hóa chính là vườn ươm nhân cách, và đây cũng chính là ngả đường mở rộng để các kinh nghiệm xã hội có thể đến với cá nhân (Phạm Tất Dong, Lê 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngọc Hùng, 2001:260).
Môi trường xã hội hóa bao gồm: gia đình, bạn bè, môi trường học tập. Như đã đề cập ở trên, xã hội hóa là một quá trình diễn ra suốt đời mỗi cá nhân, cá nhân có thể bắt chước và tiếp nhận hành vi từ những mối quan hệ họ hàng gần gũi nhất, đó là quan hệ gia đình và quan hệ bạn bè. Gia đình là bối cảnh xã hội quan trọng nhất trong đó diễn ra xã hội hóa. Xã hội hóa là một chức năng then chốt của gia đình, có vai trò quan trọng trong việc biến một cá nhân từ một thực thể tự nhiên thành con người xã hội.
Nó góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng thì nhóm bạn cùng tuổi thường ganh đua với ảnh hưởng của bố mẹ.