CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm: Chuyển dạ là hiện tượng sinh lý đưa thai nhi từ trong buồng tử cung ra ngoài qua đường âm đạo khi thai có tuần tuổi thai từ 38 - 42 tuần. Lúc ấy thai nhi đã trưởng thành và có thể phát triển ngoài tử cung. Sinh lý chuyển dạ: Chuyển dạ được chia thành 3 giai đoạn [3].
Giai đoạn 1: Giai đoạn xóa mở cổ tử cung. Giai đoạn xoá mở cổ tử cung, tính từ khi bắt đầu chuyển dạ đến khi cổ tử cung mở hết, giai đoạn này là giai đoạn kéo dài nhất của cuộc chuyển dạ. Thời gian trung bình của giai đoạn này là 15 giờ bao gồm: Giai đoạn 1a: Từ khi cổ tử cung bắt đầu xoá đến khi cổ tử cung mở 3 cm gọi là pha tiềm tàng, thời gian 8 giờ. Giai đoạn 1b: Từ lúc cổ tử cung mở 3 cm đến 10 cm (mở hết) gọi là pha tích cực, thời gian 7 giờ.
Giai đoạn 2: Giai đoạn sổ thai tính từ khi cổ tử cung mở hết đến khi thai sổ ra ngoài [13]. Thời gian trung bình 30 phút, tối đa 1giờ. Giai đoạn này được thực hiện nhờ 2 yếu tố: Sức mạnh cơn co tử cung và sự co bóp các cơ thành bụng. Giai đoạn 3: Giai đoạn sổ rau, bắt đầu từ khi thai sổ ra ngoài đến khi rau bong, và sổ rau ra ngoài cùng với màng rau sổ [13], thời gian 15 - 30 phút.
Cơ chế đẻ thường: - Đỡ đẻ thường ngôi chỏm là thủ thuật tác động vào thì sổ thai để giúp cuộc đẻ được an toàn theo đường âm đạo, không cần can thiệp (trừ trường hợp cắt tầng sinh môn). download by : skknchat@gmail.2019 4 - Trong một cuộc đẻ, thai nhi dù là ngôi gì cũng diễn biến qua 4 thì chính: + Lọt: Là đường kính lớn nhất của ngôi trùng vào mặt phẳng eo trên (hay phần thấp nhất của đầu ngang vị trí - 0 - hai gai tọa). Đường kính của ngôi trùng vào mặt phẳng eo trên (thì “lọt”) Hình 1. Ngôi di chuyển tử mặt phẳng eo trên đến mặt phẳng eo dưới (thì “xuống”) + Xuống: Ngôi di chuyển trong ống đẻ từ mặt phẳng eo trên đến mặt phẳng eo dưới download by : skknchat@gmail.2019 5 + Quay: Điểm mốc của ngôi hoặc chẩm (thóp sau) quay về phía xương mu hay xương cùng.
+ Sổ: Phần thai sổ ra ngoài qua âm hộ. Đẻ đầu: - Thì lọt: Trước khi chuyển dạ: Đầu cao, cúi không tốt (đường kính chẩm trán = 11cm, trình diện trước eo trên). Để chuẩn bị lọt, cơn co tử cung làm đầu cúi tốt hơn để đường kính hạ chẩm - thóp trước = 9,5cm song song với đường kính chéo trái của mặt phẳng eo trên (khám âm đạo sờ được rãnh dọc của đầu trùng với đường kính này). Lọt thực sự: Quá trình diễn tiến từ từ, khi đường kính của ngôi (đường kính lớn nhất) đi qua mặt phẳng eo trên.
Đặc biệt có một số dấu hiệu lâm sàng khi đầu đã lọt như sau: Qua khám bụng, chỉ có thể sờ thấy 2/5 đầu thai nhi. Qua khám âm đạo cho thấy phần thấp nhất của chỏm nằm ngang mặt phẳng gai hông của sản phụ. Kiểu lọt: Lọt đối xứng (2 bướu đỉnh cùng xuống song song); lọt không đối xứng một bướu xuống trước, một bưới xuống sau. Thì xuống: Là giai đoạn di chuyển của ngôi từ mặt phẳng eo trên đến mặt phẳng eo dưới ra phía âm đạo, khi đầu thai nhi xuống thấp là tầng sinh môn căng phồng.
Thì quay: Khi đầu thai nhi chạm vào lớp cân cơ của đáy chậu thì đầu thai nhi bắt đầu quay để đường kính hạ chẩm - thóp trước 9,5cm trở thành song song với đường kính trước sau của eo dưới. Ngôi chỏm kiểu thế trước thì đầu sẽ quay 450 ra trước. Ngôi chỏm kiểu thế sau thì đầu quay 450 ra phía sau, hoặc có thể quay 1350 ra trước. Thì sổ: Sau khi xuống và quay, đầu sẽ cúi thêm do sức đẩy của cơn co tử cung, sức đẩy của cơn co thành bụng lúc rặn đẻ, sức cản đáy chậu.
Các yếu tố trên làm đầu chuẩn bị sổ. Khi hạ chẩm thai nhi đã cố định ở bờ dưới khớp mu, dưới tác động của sức rặn và cơ co tử cung, đầu thai nhi ngửa dần, âm hộ nở to để lần lượt trán, mặt, cằm chui ra và hướng lên trên. Sau khi sổ xong đầu thai nhi sẽ quay 450 trở về kiểu thế cũ. download by : skknchat@gmail.
Đầu thai nhi cúi trong chuyển dạ Đẻ vai: Cơ chế không khác mấy so với cơ chế đẻ đầu. Sau khi sổ, đầu quay về vị trí cũ, đường kính lưỡng mỏm vai thu hẹp từ 12cm còn 9,5cm và lọt theo đường kính chéo (nếu ngôi lọt theo đường kính chéo trái thì vai lọt theo đường kính chéo phải và ngược lại). Sau khi lọt, vai sổ theo đường kính trước sau của eo dưới, vai trước sổ đến bờ dưới cơ Delta thì dừng lại để vai sau sổ. Đẻ mông và chân: Giống như cơ chế đẻ vai, đường kính lớn nhất của mông là đường kính lưỡng ụ đùi bằng 9,0cm (đường kính cùng - chày 11cm sẽ thu nhỏ còn 9,0cm).
Do đó đẻ mông không khó [5]. Các tai biến hay gặp trong chuyển dạ và sau đẻ 1. Chảy máu do: Đờ tử cung. - Chảy máu ngay sau khi sổ rau là triệu chứng phổ biến nhất.
- Tử cung giãn to, mềm nhão, co hồi kém hoặc không co hồi, không có khối an toàn. download by : skknchat@gmail.2019 7 - Có thể dẫn đến choáng nếu không xử trí kịp thời Xử trí. - Phải xử trí kịp thời để tránh tình trạng chảy máu kéo dài dẫn tới rối loạn đông máu. - Dùng các biện pháp cơ học để cầm máu: xoa bóp tử cung, chẹn động mạch chủ bụng, chẹn tử cung qua thành bụng, ép ngoài tử cung bằng hai tay hoặc ép trong và ngoài tử cung.
- Kiểm soát tử cung lấy hết rau sót và máu cục rồi tiêm bắp oxytocin 5 - 10 đơn vị (UI), có thể tiêm nhắc lại 2 lần. Nếu tử cung không co, tiêm ergometrin 0,2mg x 1 ống vào bắp hoặc misoprostol 200 mcg x 1 - 4 viên ngậm dưới lưỡi. - Truyền dịch chống choáng. - Nếu xử trí như trên nhưng không có kết quả thì phải phẫu thuật cắt tử cung bán phần (nếu đã đủ con) hoặc nếu có điều kiện và kinh nghiệm thì sử dụng mũi khâu B-Lynch hoặc thắt động mạch hạ vị, động mạch tử cung trước khi cắt tử cung.
- Kết hợp vừa phẫu thuật vừa hồi sức, truyền máu. - Cho kháng sinh toàn thân. Chấn thương đường sinh dục (rách âm hộ, âm đạo, rách tầng sinh môn, rách cổ tử cung, vỡ tử cung và máu tụ đường sinh dục). - Tử cung co hồi tốt nhưng máu vẫn chảy ra ngoài âm hộ, máu đỏ tươi chảy rỉ rả hay thành dòng liên tục.
- Khám thấy vết rách và máu tụ đường sinh dục. - Xử trí theo nguyên tắc tiến hành song song cầm máu và hồi sức. - Khâu lại tầng sinh môn nếu rách độ 1, 2. - Nếu rách tầng sinh môn độ 3, rách âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, vẫn tiếp tục chảy máu, hoặc máu tụ máu.
- Cầm máu, hồi sức chống choáng. - Khâu phục hồi các vết rách bằng chỉ tự tiêu mũi rời (ở cổ tử cung, túi cùng, download by : skknchat@gmail.2019 8 âm hộ, âm đạo) và khâu nhiều lớp ở chỗ rách tầng sinh môn. - Cho kháng sinh. - Tùy theo vị trí, kích thước và sự tiến triển của khối máu tụ để có thái độ xử trí thích hợp.
Bất thường về bong rau và sổ rau. Sót rau, sót màng Triệu chứng Chảy máu thường xuất hiện sau khi sổ rau. Tử cung có thể co hồi kém. Ra máu rỉ rả, lượng máu ra có thể ít hoặc nhiều, máu đỏ tươi lẫn máu cục.
Có thể phát hiện sớm sót rau bằng cách kiểm tra rau và màng rau. Nếu phát hiện muộn, không kịp thời, mất máu nhiều có dấu hiệu choáng Xử trí. Truyền dịch tĩnh mạch ngay. Cho thuốc giảm đau (morphin10 mg x 1ống tiêm bắp) và tiến hành kiểm soát tử cung.
Tiêm bắp 5 - 10 UI oxytocin hoặc/và ergometrin 0,2 mg. Dùng kháng sinh toàn thân. Theo dõi mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung. Hồi sức truyền máu nếu thiếu máu cấp.
Tiếp tục theo dõi mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung. Nếu còn ra máu cho thêm thuốc oxytocin tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch. Kiểm soát tử cung lại nếu cần. Rau không bong.
Rau không bong trong vòng 30 phút sau khi sổ thai hoặc dùng biện pháp xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ không kết quả. Rau bám chặt và không chảy máu. Rau cài răng lược bán phần thì sau khi thai đã sổ 30 phút rau không bong hoàn download by : skknchat@gmail.2019 9 toàn, chảy máu nhiều hay ít tùy theo diện rau bong rộng hay hẹp. Rau cài răng lược toàn phần: ít gặp, không chảy máu.
Chú ý: Thường được phát hiện trong quá trình bóc rau nhân tạo. Nếu chảy máu, tiến hành bóc rau và kiểm soát tử cung, tiêm bắp oxytocin 10 UI, xoa bóp tử cung, hồi sức chống choáng, cho kháng sinh. Rau cài răng lược bán phần chảy máu hoặc rau cài răng lược toàn phần phải phẫu thuật cắt tử cung. Nếu chảy máu nhiều cần phải hồi sức chống choáng, truyền máu và phẫu thuật.
Rối loạn đông máu Có thể tiên phát do các bệnh về máu nhưng thường là thứ phát do chảy máu nhiều, mất sinh sợi huyết (đông máu nội quản rải rác). Đông máu nội quản rải rác có thể kết hợp với tiền sản giật nặng, thai chết trong tử cung và rau bong non thể ẩn. Tất cả các tình trạng bệnh lý này có thể dẫn đến tiêu sinh sợi huyết. Điều trị nội khoa bằng máu tươi là chính và điều trị nguyên nhân.
Lộn tử cung Là khi tử cung bị lộn đáy vào trong buồng tử cung hoặc trong âm đạo Là một biến chứng hiếm gặp song rất nguy hiểm. Là một cấp cứu cần được chẩn đoán và xử trí sớm. Có 2 thể: Lộn tử cung toàn phần: Toàn bộ đáy và buồng tử cung chui qua cổ tử cung vào âm đạo, kéo theo 2 phần phụ, dây chằng rộng, dây chằng tròn lộn theo. Lộn tử cung không hoàn toàn: Chỉ đáy tử cung lộn vào trong buồng tử cung.
a) Nguyên nhân: Đẻ nhiều lần, đẻ nhanh, đặc biệt đẻ ở tư thế đứng. Dây rau ngắn, dây rau quấn nhiều vòng quanh cổ. Lấy rau không đúng cách: Kéo mạnh bánh rau và dây rau khi rau chưa bong, thường do động tác làm thô bạo. download by : skknchat@gmail.2019 10 Ấn lên đáy một tử cung mềm.
b) Chẩn đoán: Choáng và đau dữ dội vùng dưới rốn.