CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HOC CUA THU HUT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về vai trò của FDI đối với tăng trưởng va phát triển kinh tế nói chung Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, đây mạnh thu hút FDI, có rất nhiều công trình nghiên cứu về FDI.
Cụ thể: “Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” là công trình nghiên cứu chung của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật bản và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2004). Tài liệu này trình bày về hợp tác kinh tế và nghiên cứu công nghệ và thương mại của Việt Nam, trong đó có quan điểm thu hút FDI là một chiến lược công nghiệp hoá. Tài liệu này cũng đề cập đến những khó khăn của Nhật Bản trong quá trình toàn cầu hoá, đồng thời, nêu lên thực trạng và những vấn đề cần phải giải quyết trong việc hợp tác kinh tế của Nhật Bản với Việt Nam. Đặc biệt, đây là cuốn sách nghiên cứu về chính sách đối với một số ngành công nghiệp và thương mại cụ thê theo quan điểm riêng của từng chuyên gia Nhật Bản và các chuyên gia Việt Nam.
Các chuyên gia Nhật bản nêu bật vai trò quan trọng của chính sách trong thu hut FDI trong thời đại hiện nay chứ không phải là những ưu đãi nào đó. Trong tài liệu này, một số chuyên gia Việt Nam đã nói về thu hút FDI vào Việt Nam theo góc độ phân chia các doanh nghiệp FDI thành hai khu vực thay thế nhập khẩu và định hướng xuất khẩu. Trong toàn bộ cuốn tài liệu này, van đề FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) ngành kinh tế đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn dé các chính sách trở nên toàn diện, nhất quán, đáp ứng được tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. N Công trình của Lê Xuân Bá và Nguyễn Thi Tuệ Anh về “Tác động của A đâu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” (2006).
Công trình đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoai đến một số ngành kinh tế được lựa chọn ở Việt Nam và đã phát hiện ra một số van đề cụ thé khá quan trọng về tác động tràn của dau tư trực tiếp nước ngoài. Đề tài đã đưa ra kiến nghị quan trọng là tạo cơ hội cho việc xuất hiện tác động tràn và tăng khả năng hấp thụ của các tác động tràn tích cực của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước. Về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, tác giả Đào Thị Bích Thủy (2012), trong bài viết: Tac động của dau tư nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình nên kinh tế có dự thừa lao động, trên Chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội (DHQGHN), số 3 đã viết: Trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế, tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào vốn. Đặc điểm của các nước đang phát triển là nguồn vốn rất hạn hẹp, trong khi tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm lại rất phô biến.
Một trong những giải pháp về vốn là dựa vào đầu tư nước ngoài. Bài viết nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển với tình trạng dư thừa lao động. Đây là một nghiên cứu lý thuyết sử dụng phân tích mô hình và phương pháp mô phỏng. Những hàm ý chính sách được rút ra từ mô hình là hiện hữu trên thực tiễn và điều này cho thấy nghiên cứu đã bước đầu đề xuất được mô hình khá phù hợp giúp lý giải thực tiễn về tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát trién.
Cũng liên quan đến định hướng thu hút FDI, tác giả Bùi Tat Thắng & Nguyễn Hoang Hà trong bài: về định hướng thu hút FDI trong tình hình mới, Tạp chí KT&PT Số 182, tháng 8 năm 2012, cho rằng: Trong 25 năm qua, nguồn vốn dau tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có những đóng góp tích cực không thể phủ nhận đối với tiến trình phát triển kinh tế đi lên của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, FDI đang đứng trước những vấn đề mới đặt ra bởi những thay đổi lớn lao về bối cảnh quốc tế và trong nước. Việt Nam cần một hướng đi mới trong thu hút FDI trong giai đoạn tới và đó có thê là sự hình thành mối quan hệ đối tác chiến lược, có chọn lọc với một số tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) hàng đầu toàn cầu. Các nghiên cứu về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong thời gian qua, kế từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được thông qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách của các tỉnh, thành phố trong việc thu hút FDI vào địa bàn tỉnh.
Cụ thể: Về vai trò của FDI đối với chuyên dịch cơ cấu kinh tế địa phương, tác giả Đào Văn Hiệp trong Luận án tiến sỹ kinh tế, 2005 với nhan đề “Dau tw trực tiếp nước ngoài và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cau kinh tế (CDCCKT) ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Hải Phòng" đã phân tích và đề cập đến đầu tư nước ngoài và CDCCKT ngành ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài và tác động của FDI đến CDCCKT ngành ở Hải Phòng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phương hướng và giải pháp thu hút, sử dụng đầu tư nước ngoài thúc đây CDCCKT ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Hải Phòng. Tuy nhiên, đề tài này chưa đề cập đến FDI với chuyên dịch cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế trong xu thé hội nhập kinh tế quốc tế, mô hình ảnh hưởng, tác động và mỗi quan hệ giữa FDI với cân đối co cau ngành, thành phần và vùng kinh tế của Việt Nam đặc biệt là khu vực Tây Đắc.
Cũng phân tích về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, Luận án tiến sỹ của Tống Quốc Dat, “Cơ cấu dau tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế ở Việt Nam” của tác gid Tong Quốc Đạt (2005) đã làm rõ vấn đề lý luận cơ bản về FDI va cơ cau đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế; hệ thong những thay đổi về cơ chế, chính sách của Việt Nam trong thời kì từ khi ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (1987) đến nay nhằm thu hút FDI theo ngành kinh tế; đánh giá thực trạng hoạt động FDI theo ngành kinh tế của Việt Nam đến năm 2005. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra một số quan điểm, định hướng về việc thu hút FDI hướng tới việc điều chỉnh cơ cau ngành kinh tế thông qua việc khang định vai trò của FDI với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân và những giải pháp chủ yếu định hướng thu hút FDI theo ngành kinh tế để chuyền dịch cơ cầu ngành kinh tế phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam thời gian tới. Luận án này chưa đề cập nhiều đến FDI với chuyển dich cơ cấu thành phần kinh tế, co cầu vùng kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, luận án nghiên cứu ở thời điểm khi chưa thống nhất chung một luật đầu tư cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đặc biệt phạm vi nghiên cứu của đề tài ở tầm cả nước mà chưa xem xét cụ thé theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện thu hút FDI hướng vào Chuyên dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh vùng núi Tây Bắc. Liên quan đến ảnh hưởng của FDI tới việc đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các địa phương, Luận án tiễn sỹ kinh tế “Dau tư trực tiếp nước ngoài với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện địa hoá ở Việt Nam giai đoạn 1988-2005” của tác giả Đỗ Thị Thuỷ (2001) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến FDI vào Việt Nam, nhất là giai đoạn 1997-2000 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trong khu vực làm giảm sút FDI vào Việt Nam giai đoạn này.
Trên cơ sở đánh giá và phân tích các nguyên nhân, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm thu hút FDI vào Việt Nam nói chung đến năm 2005 phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Luận án chưa đề cập đến thu hút FDI nhằm CDCCKT tại Việt Nam nói chung và cụ thé ở một tỉnh như Tây Ninh nói riêng. Trong dé tài NCKH cấp Bộ (1999)“CDCCKT trong điều kiện hội nhập với khu vực và thé giới”, tác giả Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ cũng đã đề cập tới luận cứ khoa học của CDCCKT theo hướng hội nhập, thực trang chuyển dich cơ cau theo ngành kinh tế nước ta những năm 1991-1997, thực trạng CDCCKT một số vùng, phương hướng và giải pháp CDCCKT nước ta theo hướng hội nhập với nền kinh tế khu vực va trên thế giới. Trong tài liệu này, vai trò của FDI với CDCCKT nói chung không được đề cập nhiều, đặc biệt là chưa đề cập và được áp dụng đối với một địa ban cụ thé như Tây Ninh.
Báo cáo Dau tu trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Bắc Ninh - 15 năm nhìn lại (2012). Báo cáo cho rằng: Sau 15 năm phát triển, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, góp phần tích cực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp. Bắc Ninh bước vào thời kỳ đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu: “.Phan đấu đến năm 2015 đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, thành phố trực thuộc Trung ương vao năm 2020”. Sự phat triển của một mô hình kinh tế phụ thuộc vao tinh chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Do vậy, định hướng phát triển khu vực FDI trong nền kinh tế, trước hết là định hướng phát triển của lực lượng sản xuất, chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng số lượng hàng năm bằng bất cứ giá nào. Hơn nữa, chúng ta đang thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo tư duy chuyển từ “chiều rộng” sang “chiều sâu”, trong đó có khu vực FDI, để chuẩn bị bước vào thời kỳ phát triển mới.