Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ 1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế" * Khái niệm "di sản thừa kế": Có nhiều cách hiểu về di sản thừa kế. Nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về di sản thừa kế. Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho người còn sống kể từ thời điểm mở thừa kế [32, tr.
Theo tác giả Phan Văn Nghĩa, di sản thừa kế là "toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác" [14, tr. Vậy, theo quan điểm này, di sản thừa kế không chỉ bao gồm các tài sản có giá trị vật chất hoặc tinh thần mà còn bao gồm các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại. Dưới góc độ pháp lý, di sản thừa kế cũng được cụ thể hóa tại Điều 612 BLDS năm 2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác" [24, Điều 612]. Theo tinh thần của BLDS năm 2015, khi một cá nhân chết đi có di sản để lại và có các nghĩa vụ chưa được thực hiện thì phần di sản của người chết để lại sẽ được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ đó trước, phần còn lại mới chia cho những người thừa kế.
Tựu chung lại, di sản thừa kế có thể hiểu là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho những người thừa kế hợp pháp của họ sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) mà người chết chưa thực hiện được. * Khái niệm "phân chia di sản thừa kế": Theo nghĩa kỹ thuật, phân chia là tập hợp các hoạt động nhằm chấm dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên một hoặc nhiều tài sản. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quan hệ thừa kế, việc phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất từ hai người thừa kế trở lên đối với di sản mà người chết để lại. Bởi nếu chỉ có một người thừa kế, người này có quyền thừa kế toàn bộ số di sản thừa kế mà không phải phân chia số di sản đó với ai khác.
Việc phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng thỏa thuận hoặc do Tòa án thực hiện khi xảy ra tranh chấp về di sản thừa kế giữa các đương sự. Mục đích của việc phân chia di sản thừa kế là để chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần giữa những người thừa kế đối với di sản đó. Như vậy, phân chia di sản thừa kế có thể hiểu là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền sở hữu của mỗi người thừa kế đối với phần di sản mà họ có quyền hưởng trong khối di sản chung sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có), chấm dứt tình trạng nhiều chủ thể cùng có quyền sở hữu di sản do người chết để lại. * Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế": Thỏa thuận là việc các bên chủ thể đồng ý với nhau về điều gì đó liên quan đến họ sau khi đã bàn bạc, trao đổi [31, tr.
Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân sự - hợp đồng dân sự giữa các chủ thể là những người thừa kế của người để lại di sản. Từ đó, có thể rút ra, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một hợp đồng dân sự giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung đối với di sản thừa kế sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) từ phần di sản do người chết để lại. * Ý nghĩa của sự thỏa thuận: Trên thực tế, việc phân chia di sản thừa kế thông thường được thực hiện thông qua sự thỏa thuận giữa những người thừa kế. Chỉ trong trường hợp những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì họ mới yêu cầu phân chia di sản tại Tòa án và đó thường là những tranh chấp có tính chất 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phức tạp.
Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án có thể có những hệ lụy và nhược điểm sau đây: - Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án ảnh hưởng đến tình cảm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người dân ở các nước Á Đông như Việt Nam. - Danh dự của cả gia đình có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ bố hoặc mẹ mới chết mà anh, chị, em đã tranh chấp tài sản được bố, mẹ để lại tại Tòa án sẽ khiến hàng xóm láng giềng dị nghị, đàm tiếu. - Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án kéo dài, phát sinh nhiều chi phí và tốn nhiều công sức hơn so với việc tự thỏa thuận.
Một vụ án có thể kéo dài đến nhiều tháng, năm, đặc biệt là những vụ việc phức tạp có thể được giải quyết qua nhiều cấp khác nhau. - Chi phí để giải quyết một vụ án về thừa kế bao gồm: án phí, chi phí thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí đi xác minh, thu thập chứng cứ… trong đó, án phí được xác định theo % giá trị tài sản tranh chấp, tài sản có giá trị càng lớn thì án phí cho vụ án đó càng cao. - Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án sẽ phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục cụ thể mà pháp luật quy định. Trình tự, thủ tục này khá rườm rà, gây phiền hà cho các bên tranh chấp mà các bên không thể tự thỏa thuận cắt giảm hoặc bỏ qua.
Rõ ràng, việc những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản có nhiều ưu điểm hơn so với biện pháp giải quyết việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án, thể hiện ở các điểm sau đây: - Giữ được tình cảm đoàn kết, yêu thương, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình. - Thỏa thuận phân chia trên cơ sở tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Những người thừa kế có hoàn cảnh kinh tế khá hơn có thể tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế còn lại. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nếu những người thừa kế thỏa thuận được việc phân chia di sản thì sẽ mất ít thời gian hơn với việc giải quyết tại Tòa án.
Bởi họ chỉ cần thống nhất nội dung phân chia, sau đó nếu có nhu cầu thì những người thừa kế yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công chứng/chứng thực văn bản đó. - Chi phí phát sinh trong trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ít hơn so với việc phân chia di sản tại Tòa án. - Thủ tục công chứng/chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhanh chóng và ít phức tạp hơn so với thủ tục phân chia di sản thừa kế tại Tòa án. Từ những ưu điểm trên, có thể thấy, phương án tối ưu nhất đối với việc phân chia di sản là thỏa thuận phân chia di sản giữa những người thừa kế.
Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân sự giữa những người thừa kế với nhau. Vì thế, để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực thì phải đáp ứng các điểu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của thỏa thuận. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. * Tư cách chủ thể của người thừa kế: Theo nguyên lý chung, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ thể phải có đủ tư cách chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Tuy nhiên, pháp luật thừa kế không đặt ra điều kiện về tư cách chủ thể đối với người thừa kế vì các lý do sau: - Di sản mà người thừa kế thực chất được hưởng là số tài sản còn lại sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại (nếu có). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ này nhưng không vượt quá phần tài sản mà họ nhận được. Nếu người thừa kế không có hoặc chưa có đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ (cha, mẹ hoặc người giám hộ) sẽ đại diện cho họ dùng phần tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại (nếu có). Vậy nên, không yêu cầu về mặt năng lực chủ thể đối với người thừa kế.
- Người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự có thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thông qua người đại diện theo pháp luật. Việc quản lý tài sản của những đối tượng này cũng do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ. - Người có quyền thừa kế vắng mặt tại nơi cư trú hoặc bị Tòa án tuyên bố là mất tích thì việc quản lý tài sản của những người này sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 65 và Điều 69 BLDS năm 2015. Nếu như người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi có quyền đại diện cho họ thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế, thì theo quy định pháp luật hiện hành, người quản lý tài sản của người vắng mặt hoặc mất tích không chắc có quyền đại diện cho những người này trong việc thỏa thuận phân chia di sản mà họ được hưởng.
- Tương tự như quyền sở hữu, quyền thừa kế là một quyền tuyệt đối. Trong quyền sở hữu, người có tài sản một cách hợp pháp thì dù có năng lực hành vi hay không, người đó vẫn là chủ sở hữu tài sản.