phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung chính của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM Chƣơng 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƢỢNG ĐẶC SẮC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Chƣơng 3: NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY THƠ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật 1.1 Khái niệm tư duy Để giải thích vấn đề tƣ duy là gì, nhiều nhà khoa học và nhiều ngành khoa học đã tốn không biết bao nhiêu thời gian và giấy mực để nghiên cứu, và cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất. Triết học nghiên cứu tƣ duy dƣới góc độ lý luận nhận thức. Lôgíc học nghiên cứu tƣ duy ở các quy tắc tƣ duy đúng.
Xã hội học nghiên cứu tƣ duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tƣ cách là nền tảng vật chất của các quá trình tƣ duy ở con ngƣời. Điều khiển học nghiên cứu tƣ duy để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo”. Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tƣ duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tƣ duy với các khía cạnh khác của nhận thức.
Tƣ duy không chỉ là đối tƣợng nghiên cứu của các ngành khoa học cơ bản, mà còn là đối tƣợng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật. Tƣ duy là toàn bộ những hoạt 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động tâm lý của con ngƣời, chỉ con ngƣời mới có. Tƣ duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não. “Tƣ duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tƣợng mà trƣớc đó ta chƣa biết.
Tƣ duy của con ngƣời có bản chất xã hội, chịu sự chế ƣớc bởi các nhu cầu xã hội và sử dụng ngôn ngữ, là cái chỉ tồn tại trong xã hội loài ngƣời. Đặc trƣng của tƣ duy là phản ánh các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phƣơng tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tƣ duy”[58,18]. Lê nin, tƣ duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn. “Tƣ duy của ngƣời ta - đi sâu một cách vô hạn, từ giả tƣởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nhƣ vậy, đến bản chất cấp hai.
đến vô hạn”[67,30]. Tƣ duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà ta chƣa từng biết. Tƣ duy khác với ý thức, bởi lẽ ý thức là sự phản ánh hiện thực của hoạt động tâm lý. Tƣ duy cũng khác với lý trí vì nói đến lý trí là nói đến cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức.
Tƣ tƣởng thì vừa là kết quả vừa là xuất phát điểm của tƣ duy. Tƣ duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ đƣợc chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hƣớng cho hành vi phù hợp với môi trƣờng sống. Tƣ duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà ta chƣa từng biết. Tƣ duy định hƣớng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tƣ duy kết thúc.
Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chƣa có thì cần phải tƣ duy, khi nhận thức đã có thì tƣ duy kết thúc. Phƣơng tiện để diễn đạt tƣ duy chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của tƣ duy. “Không có ngôn ngữ thì tƣ duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trƣớc hiện thực. Không có tƣ duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của trẻ sơ sinh mà thôi.
Tƣ duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo. Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tƣ duy đi sâu vào bản chất của sự vật”[58,19]. Và nhƣ vậy, ngôn ngữ thơ chính là một phƣơng tiện biểu hiện tƣ duy thơ, tƣ duy thơ thế nào thì ngôn ngữ thơ nhƣ vậy.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ 1.1 Tƣ duy nghệ thuật Tƣ duy nghệ thuật là tƣ duy sáng tạo của con ngƣời trong lĩnh vực nghệ thuật. Mỗi nghệ sĩ có một hƣớng tƣ duy nghệ thuật khác nhau, làm nên cá tính và phong cách riêng của họ.
Không phải nhà thơ nào cũng có phong cách nhƣng bất cứ nhà thơ nào muốn để lại tên tuổi của mình trên văn đàn, phải khẳng định đƣợc cái riêng của mình. Cái khắc nghiệt của văn chƣơng nghệ thuật là ở chỗ đó, hoàn toàn khác với các loại hình khoa học khác. Khoa học tự nhiên hƣớng đến những định lí chung nhất, khái quát nhất và đƣợc nhân loại thừa nhận. Còn văn chƣơng nghệ thuật lại hƣớng đến cái tôi, cái duy nhất.
Và chỉ khi nào ngƣời nghệ sĩ thực sự say mê với công việc, thì sự sáng tạo mới toả sáng, cái độc đáo của ngƣời nghệ sĩ mới đƣợc bộc lộ và đƣợc công nhận. Bất cứ một sự sao chép và khiên cƣỡng nào đều nằm ngoài địa hạt của nghệ thuật chân chính. “Tƣ duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con ngƣời hƣớng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Bản chất của nó do phƣơng thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tƣợng quy định.
Tƣ duy nghệ thuật là một phƣơng thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phƣơng tiện của nó là các biểu tƣợng, tƣợng trƣng có thể trực quan đƣợc. Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tƣ duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định ƣớc lệ, nó hƣớng tới sự nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính, mang nội dung khả nhiên, có thể cảm thấy, theo xác suất khả năng và tất yếu”[26,281].
Nhƣ vậy điều quan trọng nhất của tƣ duy nghệ thuật đó là sự sáng tạo, và phƣơng tiện biểu hiện nằm trong những biểu tƣợng nghệ thuật. Mỗi nhà 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn, nhà thơ đều có sự lựa chọn biểu tƣợng khác nhau để chuyển tải cách tƣ duy của mình, cách nhìn thế giới của mình. Tƣ duy thơ là một cách tƣ duy hình tƣợng, thơ cho phép thi sĩ có khả năng liên tƣởng phong phú đa dạng. Tƣ duy thơ có khả năng hƣớng nội và hƣớng ngoại.
Tuỳ từng thời điểm và tuỳ thuộc phong cách riêng của mỗi nhà thơ mà họ chọn cách tƣ duy phù hợp. Tƣ duy hƣớng nội thƣờng phổ biến trong thơ trung đại và thơ lãng mạn, nơi cái tôi thi sĩ lên ngôi. Tƣ duy hƣớng ngoại phổ biến ở giai đoạn văn học cách mạng, các thi sĩ say mê thể hiện cái ta, hoà cái tôi vào cái ta chung của thời đại. Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã bàn nhiều về vấn đề tƣ duy nghệ thuật nói chung và tƣ duy thơ nói riêng trong rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Ông cho rằng: “Tƣ duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tƣợng trực quan, là sự hình tƣợng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tƣ duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của ngƣời sáng tạo”[58,54]. Chính trên cơ sở vai trò của cái chủ thể trong hình tƣợng nghệ thuật mà Claud Bernard đã ghi chú: “Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta…” Tƣ duy nghệ thuật khác với tƣ duy khoa học ở chỗ tƣ tƣởng và tình cảm không chỉ là năng lƣợng của tƣ duy mà còn là đối tƣợng nhận thức của tƣ duy. “Hình tƣợng nghệ thuật đƣợc coi là hình tƣợng của cảm xúc, nghĩa là năng lƣợng tình cảm còn lại trong hình tƣợng nhƣ là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành”[58,19].2 Tƣ duy thơ Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại.
Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi với con ngƣời ở mọi thời đại, ở phƣơng Đông cũng nhƣ ở phƣơng Tây…. Khác với loại tác phẩm truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con ngƣời, mà tâm hồn con ngƣời là một thế giới phức tạp, mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giác nhƣng rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh. “Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đƣờng đi và số phận của chúng. Bằng những đối thoại và độc thoại, tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động con ngƣời qua những mâu thuẫn xung đột.
Ở tác phẩm trữ tình có khác; thế giới quan của con 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ đƣợc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu” [37, 357]. Để viết nên bài thơ, đầu tiên nhà thơ phải tìm cho mình đƣợc tứ thơ. Tứ thơ rất quan trọng. Tứ thơ, hay ý tứ của bài thơ, là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt.
Một nhà thơ phải biết cách hòa ý tƣởng vào cảm xúc và hình ảnh, sáng tạo một tứ độc đáo làm bài thơ linh động hẳn lên, trở nên có hồn. Hành động đó gọi là cấu tứ. Lao động thơ trƣớc hết là kiếm tứ… Ngôn từ, lời chữ vẫn rất quan trọng bởi vì thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ. Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai mà cái quan trọng thứ nhất làm rƣờng cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài thơ.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Trƣớc hết cần phân biệt ý và tứ. Nói đến ý ta nghĩ đến những điều nảy ra trong trí óc khi suy nghĩ. Còn tứ phải là những ý không ở dạng quan niệm nữa, đã thể hiện trong hình tƣợng.