Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ CỦA CHỬ VĂN LONG 1. Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật 1. Khái niệm tư duy Tư duy là một thuật ngữ có tính chất mở với một nội hàm tương đối rộng. Tư duy là phạm trù liên quan đến lính vực triết học, tâm lý học,… trong đó có lĩnh vực nghệ thuật.
Trong Từ điển triết học của M.Iudin có định nghĩa về tư duy như sau: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người. khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [59, tr. Tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại. Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm.
Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người. Bởi vậy, có thể định nghĩa: “Con người là một động vật có tư duy”. Tư duy (Pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người. Để hiểu rõ hơn về khái niệm tư duy ta tìm hiểu trong quan hệ của nó với các thuật ngữ khác: Tư duy và ý thức, tư duy và tư tưởng, tư duy và lý trí, tư duy và ngôn ngữ, tư duy và lôgic… Tư duy được phân biệt với ý thức (conscience).
Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý. Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy là ý thức ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người. Tư duy phân biệt với trí tuệ, trí thông minh (intelligence). Ở một mức độ nào đó, có những con vật có trí thông minh mặc dù chúng không có tư duy.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tư duy và lí trí (raison) không phải là một. Nói đến lí trí là nói đến cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức. Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức. Tư tưởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tư tưởng, vừa là kết quả vừa là xuất phát điểm của tư duy.
Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con người. Tư tưởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội dung tình cảm nào đó. Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy. Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp.
“Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phương tiện ngôn ngữ. Đó là toàn bộ các chức năng nhận thức của tư duy”[53,tr.Lê nin: “Cái quan trọng đối với tư duy là cái mà con người chưa biết đến”. Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc người ở trạng thái sống động của nó.
Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não. Đó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được. Nói đến “sự sống” trong vận động tư duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của tư duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng” “giao cảm” giữa người với người.
Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tư duy. Tư duy là một “trạng thái bên trong của vật chất” (Plêkhanôp) nhưng chỉ có ở vật chất đặc biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở đầu óc con người. Mọi quan niệm cho rằng tư duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc con người, đều là quan niệm tư duy phi chủ thể, hoặc là tạo ra một chủ thể siêu nhiên đối lập với con người. Tư duy định hướng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc. Phương tiện để diễn đạt tư duy chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính chất bản năng trước hiện thực. Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi.
Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất sự vật hơn. Tư duy là hoạt động nhận thức của con người. Hoạt động đó ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc có những đặc trưng phổ biến, tạo thành các phương pháp tư duy. Phương pháp tư duy phản ánh những bước tiến của nhận thức ở từng thời đại.
Về phương diện triết học, căn cứ vào khả năng bao quát hiện thực và trình độ hệ thống hóa, có thể chia phương pháp tư duy thành hai loại hình: 1) Phương pháp tư duy siêu hình; 2) Phương pháp tư duy biện chứng. Phương pháp tư duy triết học dù có ưu thế đến đâu, bao quát đến đâu thì cũng không thể thay thế cho các phương pháp tư duy của các ngành khoa học cụ thể, chính xác. Cho nên, chúng ta có một con đường phân loại thứ hai là căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội. theo cách phân loại này chúng ta có các nhóm lớn: 1) Tư duy khoa học; 2) Tư duy nghệ thuật; 3) Tư duy tôn giáo.
Đối với tư duy nghệ thuật, chúng ta có tư duy âm nhạc, tư duy hội họa, tư duy thơ ca… Trong đó, tư duy thơ ca có ảnh hưởng chi phối và phổ biến hơn cả. Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ 1. Tư duy nghệ thuật Tư duy nghệ thuật là phương thức sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục 2006 và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nhà xuất bản 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Quốc gia Hà Nội 2012.
Trong Từ điển thuật ngữ Văn học có nhận định: Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ.
Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được. Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có, có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt.
Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết”. Tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua các dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra… Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật, PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng, tác giả đã đưa đến kết luận: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Đó là điểm phân biệt đầu tiên của tư duy nghệ thuật với tư duy khoa học.57] Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo. Lênin: “Chúng tôi không hề coi nhiệm vụ của tư duy là làm biến hóa tồn tại, nhiệm vụ của nó chỉ là sắp xếp tồn tại về mặt hình thức”[61, tr.
Như vậy tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình thức” của nó thuộc về chủ thể sáng tạo. Đối với tư duy khoa học thì “hình thức” ấy được khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và quan hệ lôgic giữa các khái 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa của người sáng tạo. Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ “tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy…” [53,tr.
Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là “năng lượng” tình cảm còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành.