Chương 1 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG Trong tiểu thuyết, yếu tố đầu tiên mà nhà văn dày công xây dựng đó là nhân vật- nơi tập “trung hết thảy, giải quyết hết thảy” mọi vấn đề. Nhân vật là phạm trù trung tâm của văn học vì con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học” [52, 202]. Theo Giáo trình lý luận văn học thì nhân vật văn học được quan niệm rộng hơn: “Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là những sự vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người.
Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [37, 126]. Theo Trần Đình Sử: “Nhân vật là đối tượng hướng đến của văn học, đồng thời là phương tiện để nhà văn phản ánh và khái quát hiện thực. Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu ra là để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống, ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời. Xót xa cho nhân vật là xót xa đời.
Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu cách hiểu về cuộc đời và con người, là tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả đối với con người” [55, 26]. Trong một công trình khác ông viết: “Con người vừa là yếu tố nhận thức chủ yếu trong văn học, vừa là cái đích để sáng tạo văn học hướng tới. Các sáng tạo về phương pháp, phong cách, thể loại ngôn ngữ, kết cấu chung qui đều góp phần tạo nên hình tượng nghệ thuật mới mẻ” [57, 223]. 10 Dù có nhiều ý kiến khác nhau về nhân vật văn học nhưng phải khẳng định rằng nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong cấu trúc, thể hiện tư tưởng tác phẩm và quyết định sự thành công của tác phẩm văn học.
Trong tiểu thuyết Y Điêng, nhân vật hiện lên với đầy đủ các phương diện từ ngoại hình đến tâm lý, tính cách vừa mang những nét chung của con người Tây Nguyên vừa mang những nét khu biệt với các nhà văn khác viết về Tây Nguyên nhưng có thể thấy nổi bật lên các kiểu nhân vật: nhân vật cộng đồng; nhân vật nghệ sĩ, nhân vật bất hạnh và nhân vật tha hóa. Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng 1. Con người cộng đồng Từ ngàn đời nay, người Ê Đê nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung sống một đời gắn bó với núi rừng, nương rẫy và buôn làng. Vì cuộc sống mưu sinh và để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, giặc dã liên miên đã giúp con người thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ chia sẻ những khó khăn, nỗi đau cho nhau cả những niềm vui khi được mùa, hay trong những lễ hội của buôn làng.
Vì vậy, người dân Tây Nguyên nói chung và người Ê Đê nói riêng có lối sống và tinh thần cộng đồng rất cao. Tinh thần cộng đồng không chỉ là cách để họ sống mà còn là tình cảm, là chuẩn mực đạo đức làm nên nét văn hóa đặc trưng của người Ê Đê, của Tây Nguyên. Là người con của dân tộc Ê Đê, người con của núi rừng Tây Nguyên, Y Điêng yêu mảnh đất ấy như máu thịt của mình. Ông đã dành cả tâm huyết và đời mình cho mảnh đất và con người nơi đây.
Từng trang văn của ông lấp lánh vẻ đẹp của tình người mà trên hết là tinh thần cộng đồng. Trong Chuyện trên bờ Sông Hinh, tác phẩm có quy mô nhất của ông, ta có thể thấy từ trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày đến khi chiến tranh xảy ra, đồng bào bị dồn vào ấp chiến lược, con người đều một lòng sát cánh bên nhau. Từ những cuộc vui trong lễ hội “ăn năm uống tháng” đến khi trong làng 11 có người mất cả làng đều chung tay lo liệu mọi việc một cách tự nguyện mà không đợi ai nhắc bảo. Hoạt động được người Ê Đê và người Tây Nguyên mong đợi nhất trong năm là mùa “ăn năm uống tháng”.
Đây là hoạt động vui chơi mang tính cộng đồng rất cao. Tác giả miêu tả cảnh “ăn năm uống tháng” tổ chức ở nhà Ma Thin nhưng ta cứ ngỡ đây là ngày hội chung của cả buôn làng vì tính cộng đồng: “Tiếng chiêng trống ăn năm uống tháng của buôn Doan đã nổi lên… Các chàng trai cô gái đã sửa soạn cho nhà ông thêm rực rỡ. Con trai lo sửa lại sạp nhà, hiên nhà, làm cột đâm trâu. Các cô gái lo kiếm củi, giã gạo, hái lá chuối để gói cơm… Họ còn sửa soạn đón các trai gái làng khác đến để dự hội.
Đã từ mấy hôm nay, ở nhà ông Ma Thin từ hiên ngoài đến hiên trong, người đi lại không ngớt. Kẻ mang lá nhét ché rượu bước lên, người khiêng nồi bung đi múc nước” [19, 195- 196]. Người Ê Đê nổi tiếng là hiếu khách. Khách của một nhà cũng là khách, là niềm vui chung của cả buôn làng: “Cái thói quen của làng hoặc của cả người Mơ- dhur là mến khách.
Hễ nhà ai có khách lên là người làng dần kéo đến. nên chỉ trong một lúc, có thể nói ngồi chưa ấm đít thì người làng đến mỗi lúc một đông” [20, 100]. Dù gia đình có khách nghèo hay giàu thế nào cũng có ché rượu, con gà đãi khách. Nếu chủ nhà không có thì đã có buôn làng thay họ tiếp đãi.
Đây là một nét đẹp tiêu biểu cho tinh thần cộng đồng của người Ê Đê. Tinh thần cộng đồng ấy còn mạnh mẽ hơn khi có một người con của buôn làng mất đi, mọi người đều chung tay đùm bọc bất kể giàu nghèo. Viết về sự ra đi của ma Hơ Linh, Y Điêng đã dành những câu văn đậm tình người: Cái làng nghèo nhưng một lòng đùm bọc nhau. Ma Hơ Linh đã hết thở.
Những người đến đều nhốn nháo cả. Kẻ chạy mượn trống, mượn chiêng để đánh trong đêm cho đỡ buồn tẻ, phá cái 12 lạnh ngắt trên nhà, người lấy gạo cho vào miệng người chết. Mí Hơ Linh vừa khóc vừa mở gùi lấy khố áo mặc cho chồng. buôn làng cùng một lòng một tay, kẻ làm việc này, người làm việc nọ, chạy đi khắp nơi.
Ai cũng lo cả, từ cuốn sáp ong, dựng gậy ban. Người nấu cơm, con trai thui gà để cúng người chết. Đó là tục lệ của làng, hễ gia đình nào gặp hiểm nghèo mỗi người có gì giúp nấy cho nhau. Con trai lo múc nước, bẻ lá nhét vào ché rượu, con gái lo nấu cơm cho người làng thức thâu đêm ăn.
Cả buôn làng thức trắng đêm [19, 40- 42]. Hay trong đêm con trai ông chủ bến nước mất: Nghe tiếng hai ông bà chủ bến nước khóc, những người ở nhà đều chạy đến… Người thui gà, kẻ lôi ché rượu ra, người đánh trống cho người chết. Các chàng trai đánh chiêng. Cha mẹ và họ hàng lo mặc lại áo mới, khố mới cho người xấu số.
không ai bảo ai, người nào cũng có việc làm. Người khỏe mạnh đi giết bò, kẻ khiêng nước bỏ lá, chặt củi, ôm tranh khô để thui bò. Làng đem bao nhiêu ché rượu đều có người buộc, nhét lá đổ nước vào. Làm xong một việc họ lại đánh chiêng trống.
Tiếng chiêng trống không phải dai dẳng như trong ngày hội ăn năm uống tháng. Trong làng có bao nhiêu nhà có bấy nhiêu người đến viếng. Kẻ mang theo ché rượu, tô gạo, người con gà hoặc trứng gà, chiếc vòng đồng tặng người chết [19, 153- 155]. Tinh thần cộng đồng còn thể hiện rõ hơn khi con người rơi vào hoàn cảnh khó khăn, buôn làng liền chung tay giúp đỡ.
Mí con Hơ Linh bị chánh tổng Y Sô vu cho có ma lai và tìm cách đuổi họ khỏi buôn Thu, hai mẹ con lặn lội đến buôn Doan nhưng họ không cô đơn, lạc lõng. Ngay lập tức, họ đã được bà con Buôn Doan giúp mẹ con Hơ Linh chọn đất, làm nhà mới: 13 Mỗi người giúp một tay. các chàng trai đã được phân công rồi, ai cũng muốn đi đâu phải là người đi trước và thứ mình làm phải là thứ tốt, làm sao khi hạ thứ đó xuống các cô gái trong làng chỉ có khen thôi. các cô gái cũng phải hoãn tất cả các công việc hàng ngày.
Họ đến giúp người bạn mới. Cầm rìu, cầm rựa đốn cây chặt tre thì họ không làm được nhưng cắt tranh vác cây nấu nước hoặc chuyển những thứ gì đó thì họ thừa sức [19, 189- 190]. Trong lao động sản xuất, các gia đình, thành viên của buôn làng thường làm đổi công cho nhau, đó cũng là cơ sở làm nảy sinh và phát triển cho con người cộng đồng. Ngay cả khi cuốc nương làm rẫy, họ thường chia cặp một nam một nữ trên một luống đất để người nam có thể cuốc hộ phần đất của bạn nữ bên cạnh mình.
Theo Jacques Dounes: “Do cộng đồng huyết thống, nhiều làng là những thị tộc gia đình. Chính từ đó hình thành tính cộng đồng của người Tây Nguyên, biểu hiện bằng tính tương trợ vô tư, bằng việc vần đổi công thường xuyên, việc bình quân trong phân phối” [12, 255]. Có lẽ không ở đâu con người lại mang tính cộng đồng cao như ở Tây Nguyên. Tinh thần cộng đồng biểu hiện cao nhất trong hoàn cảnh chiến tranh.
Khi giặc Pháp đến, dân làng bị dồn vào ấp chiến lược, buôn làng từ già đến trẻ, không kể trai gái đều đồng lòng, mưu trí đấu tranh chống giặc: Chính bữa lũ Tây đến là dịp đồng bào: đàn ông, lũ trai thắt lại khố, đàn bà con gái cuốn lại váy để đứng lên đấu tranh trở về buôn cũ. Trẻ con khóc, người mẹ không dỗ mà dùng khuỷu tay thích vào chúng đau, lũ trẻ càng khóc, người này nhắc khuyên người mẹ mỗi lúc một nhiều người nói thêm ồn ào, kẻ đứng người ngồi. Đa số người dự họp là phụ nữ có con mọn khi con khóc thì họ đi ra, lúc đầu đứng ở đầu hồi nhà gần đó rồi lần lượt đi thẳng về nhà mình. Các ông cũng đứng dậy, chẳng ai nghe [20, 260].
14 Có thể thấy, để sống được với núi rừng, nương rẫy, với thiên tai, giặc dã, đồng bào Tây Nguyên đã đoàn kết một lòng để bảo vệ mình và bảo vệ buôn làng. Chính điều này đã làm nên nét đẹp văn hóa cho người Ê Đê và người Tây Nguyên đó là tinh thần cộng đồng.