Chương 1: Cơ sở lý thuyết Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề lý thuyết về thành ngữ tiếng Việt, cụ thể là khái niệm thành ngữ, nguồn gốc thành ngữ, đặc điểm thành ngữ (đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa), phân loại thành ngữ, phân biệt thành ngữ với tục ngữ và với các đơn vị ngôn ngữ khác (như quán ngữ, ngữ định danh). Chúng tôi cũng tập trung làm rõ lý thuyết trường nghĩa, chỉ ra những trường nghĩa thời tiết chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu. Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, làm cơ sở cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thành ngữ có các từ ngữ thuộc TNTT trong tiếng Việt và văn hóa của người Việt Nam. Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt Trong chương 2 này, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại, miêu tả các thành ngữ có từ ngữ thuộc TNTT về mặt cấu trúc cú pháp: cấu trúc cú pháp của thành ngữ đối có các từ ngữ thuộc TNTT, cấu trúc cú pháp của thành ngữ so sánh có các từ ngư thuộc TNTT, cấu trúc cú pháp của thành ngữ thường (là thành ngữ mà không phải là thành ngữ đối cũng không phải là thành ngữ so sánh) có các từ ngữ thuộc TNTT.
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt Trong chương 3, chúng tôi sẽ tìm hiểu nghĩa biểu trưng của thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt. Ngoài ra, chúng tôi sẽ cố 7 gắng so sánh đối chiếu thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết tiếng Việt với đơn vị tương đương trong một vài ngôn ngữ khác, để từ đó làm nổi bật đặc trưng văn hóa của người Việt. Vấn đề thành ngữ trong tiếng Việt 1. Khái niệm thành ngữ Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.
Cũng vì thế mà có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ. Các quan niệm về thành ngữ được cụ thể dần cùng với lịch sử nghiên cứu vấn đề thành ngữ trong tiếng Việt. Ban đầu, chưa có một quan niệm cụ thể cho thành ngữ vì còn có sự đồng nhất giữa thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác như tục ngữ, quán ngữ … Từ những năm bốn mươi của thế kỉ XX trở lại đây, khái niệm thành ngữ mới được trình bày độc lập để phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác. Sau đây là một số quan niệm về thành ngữ của các nhà nghiên cứu: - “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn và chỉ bảo điều gì; nghĩa là thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý nghĩa gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè.
- “Thành ngữ là loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế. - “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có.
Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học. - “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thức - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy, về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ. 9 - “Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hay quan hệ. - “Thành ngữ là đơn vị ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của mỗi dân tộc.
Thành ngữ phản ánh các khái niệm và các hiện tượng. - “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm. - “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.
Có thể nói, mỗi nhà nghiên cứu đều có một cách kiến giải riêng về thành ngữ tiếng Việt. Các khái niệm được đưa ra có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có cả những điểm khác biệt. Đây cũng là một khó khăn để đi đến việc tìm ra một khái niệm thống nhất cho thành ngữ tiếng Việt. Tiếp thu các quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đưa ra một khái niệm chung về thành ngữ tiếng Việt như sau: Thành ngữ tiếng Việt là những ngữ cố định có cấu trúc tương đối ổn định, bền vững, có ngữ nghĩa trọn vẹn và mang tính biểu trưng.
Nguồn gốc của thành ngữ Thành ngữ cũng giống như các đơn vị ngôn ngữ khác, chúng có quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Vấn đề đi tìm nguồn gốc của thành ngữ là một vấn đề khá nan giải và phức tạp. Vì nguồn gốc của thành ngữ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Xét một cách tổng quát, thành ngữ được hình thành từ các nguồn cơ bản sau đây: a.
Thành ngữ được hình thành từ đời sống lao động Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, hoạt động lao động chủ yếu của 10 người Việt là cày cấy, trồng trọt, chăn nuôi. Khi xưa, người nông dân làm việc dựa vào sức mình là chính, không có các loại máy móc, phương tiện hiện đại hỗ trợ như ngày nay, vì vậy họ phải làm việc rất vất vả, cực nhọc. Đời sống lao động vất vả đã ăn sâu vào tiềm thức của người nông dân. Nhiều sự kiện thuộc đời sống lao động sản xuất hay những công việc mưu sinh đã trở thành chất liệu cấu tạo nên nhiều thành ngữ tiếng Việt.
Đó là hình ảnh những người nông dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, thức khuya dậy sớm, cháy mặt lấm lưng, dầm sương dãi nắng, đâm sấp rập ngửa, buôn thúng bán mẹt, v. Tâm lí lo lắng, sắp đặt công việc sao cho hợp lí được phản ánh trong thành ngữ liệu bò đo chuồng. Cái nhìn thiển cận, lối làm ăn manh mún, thiếu tính toán là cơ sở ra đời thành ngữ tham bát bỏ mâm. Đời sống đói kém của người nông dân giữa hai vụ lúa được phản ánh trong thành ngữ tháng ba ngày tám… Một số thành ngữ tiêu biểu: liệu cơm gắp mắm, trông gió bỏ buồm, bờ xôi ruộng mật, cày sâu cuốc bẫm, chăn trâu cắt cỏ, chiêm khê mùa thối, cưa đứt đục suốt, dãi gió dầm sương, đắp đập be bờ, đầu ghềnh cuối bãi, đầu gio mặt muội, êm chèo mát mái… b.
Thành ngữ được hình thành từ đời sống sinh hoạt hàng ngày Trong đời sống hàng ngày, đối với người Việt Nam, ăn uống được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu. Ăn không chỉ đơn thuần là thỏa mãn nhu cầu của cái đói mà còn thể hiện rõ đạo lí, triết lí sống của con người Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ trong thành ngữ: chém to kho mặn, thái to bung dừ, đầu trôi môi mè, chuối sau cau trước, say như điếu đổ, cơm gà cá gỏi, cơm chiêm mắm mặn, cơm hẩm cà thiu, cơm sung cháo dền, cơm tẻ mẹ ruột, tương cà mắm muối, da bánh mật, má bánh đúc, bánh chưng ra góc, bánh đúc bày sàng, trơn như đổ mỡ. Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng và mùa lạnh được phân biệt rõ rệt nên chuyện ăn mặc của người Việt cũng rất được coi 11 trọng.
Với những người nông dân chân lấm tay bùn thì ăn mặc xuềnh xoàng: áo vải quần nâu, áo thô giày cỏ, thậm chí áo mảnh quần manh, quần manh áo vá, váy vận yếm mang, cởi trần đóng khố, lưng đen khố bện. Với những người giàu có thì áo dài khăn đóng, áo dài khăn lượt, áo the khăn xếp, quần chùng áo dài, quần chân áo chít, quần hồ áo cánh, khăn đóng áo chùng, khăn thâm áo vải. Và với những cô thiếu nữ thì lại phải áo lụa quần hồng, mớ ba mớ bảy,. Thành ngữ hình thành từ đời sống tâm linh (tập tục, tín ngưỡng) Là một dân tộc thiên về việc trọng tình, trọng nghĩa, người Việt Nam nói chung đặc biệt coi trọng việc tang ma, thờ cúng tổ tiên.
Một số thành ngữ tiêu biểu: cha đưa mẹ đón; cha gậy tre, mẹ gậy vông; trẻ làm ma, già làm hội;chôn sấp, liệm ngửa; giữ như giữ mả tổ, rước voi về giày mả tổ, đào mồ cuốc mả, chửi ủng mồ ủng mả, mồ yên mả đẹp, vén áo tay sô, đốt nhà táng giấy… Bên cạnh đó, còn có những thành ngữ được ra đời từ quan niệm tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt: ăn chay niệm Phật; ăn mày cửa Phật; hiền như Bụt; của ít lòng nhiều; ở hiền gặp lành; gieo gió gặt bão; Phật nhà chẳng cầu đi cầu Thích Ca ngoài đường… Để chỉ những kẻ giả dối, cha ông ta dùng cách nói miệng nam mô, bụng một bồ dao găm hay miệng Phật tâm xà; chỉ thói ích kỉ, của người khác thì phung phí, của mình thì chặt chẽ, người Việt dùng thành ngữ của người Bồ tát, của mình lạt buộc … Trong thế giới quan tôn giáo của người Việt, thuyết Vật linh luận cũng rất được coi trọng. Người ta tin rằng, trong tất cả các vật (hữu tri, vô tri) đều có sự trú ngụ của những linh hồn. Linh hồn ngự trị trong cây (thần cây đa, ma cây gạo), trong đá, trong các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, sấm, chớp (ông Đùng, bà Đoàng) và đặc biệt là ở con người. Người ta tin rằng con người có linh hồn.
Có lẽ đây là cơ sở để cho ra đời một loạt các thành ngữ như: hồn vía lên mây, hồn lìa khỏi xác, ba hồn chín vía, ba hồn bảy vía, hết hồn hết vía, hồn xiêu phách lạc, thần hồn nát thần tính, táng đởm kinh hồn, hồn về chín suối, 12 hồn điên phách đảo, kinh hồn mất vía, hú hồn hú vía, bay hồn bạt vía, sợ mất vía.