Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực là một thuật ngữ dành cho nhiều lĩnh vực khác nhau, với sự khởi điểm là khái niệm dành riêng cho Vật lý học mô tả sự tác động của các tác nhân vật lý.
Đến nay, động lực là khái niệm đƣợc mở rộng cho nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đặc biệt là khoa học xã hội và hành vi. - Theo Kreitner: “Động lực là quá trình tâm lý có mục đích cho hành vi và hƣớng của hành vi” [37, tr. - Theo Mitchel: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” [41, tr. - Theo Buford J A, Bedeian A G và Lindner J R: “Động lực là khuynh hƣớng cƣ xử một cách có chủ đích để đạt đƣợc những nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng cụ thể” [33, tr.
- Theo Donelly và cộng sự: “Động lực là tất cả các điều kiện giúp bản thân đạt đƣợc mong muốn” [34, tr. - Theo Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [20, tr. - TS Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hƣơng: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân NLĐ” [27, tr.
- Đoàn Thị Thu Hà và TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền: “Động lực là sự e 10 sẵn sàng sử dụng mọi nỗ lực cao để đạt mục tiêu của tổ chức, bị ảnh hƣởng bởi khả năng thoả mãn nhu cầu cá nhân của nỗ lực đó” [14, tr. Nhƣ vậy, động lực làm việc là những nhân tố ở bên trong kích thích làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra hiệu quả cao đƣợc biểu hiện là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và của bản thân ngƣời lao động. Tạo động lực.
Đến nay, cũng nhƣ động lực, có nhiều các định nghĩa khác nhau về tạo động lực: Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Lao động xã hội, Hà Nội- 2004, của GS. Nguyễn Thành Độ & PGS. Nguyễn Ngọc Huyền thì: “Tạo động lực cho ngƣời lao động là tổng hợp các biệp pháp quản lý nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho ngƣời lao động” Theo giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội-2008, của TS. Hà Văn Hội: “Tạo động lực là hệ thống các phƣơng pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến ngƣời lao động” [16, tr.
Tựu trung lại, tạo động lực làm việc cho nhân viên đƣợc hiểu là tất cả các biện pháp khuyến khích công chức làm việc; đồng thời tạo mọi điều kiện để nhân viên hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Việc khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần tạo ra bầu không khí thi đua trong cơ quan có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức. Việc tạo động lực cần phải lƣu ý các đặc điểm sau đây: - Hệ thống các nhu cầu cơ bản của ngƣời lao động Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của mỗi con ngƣời nhƣ ăn, mặc, đi lại, chỗ ở …Đây là nhu cầu chính và cũng e 11 là động lực chính khiến ngƣời lao động phải làm việc. Cuộc sống ngày càng đƣợc nâng cao nhu cầu của con ngƣời cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về lƣợng sang nhu cầu về chất.
Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con ngƣời đáp ứng đƣợc những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm. + Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ. + Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội.
+ Nhu cầu công bằng xã hội. Nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngƣời có quan hệ biên chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất- ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động lực cho ngƣời lao động. - Các giá trị thuộc về cá nhân ngƣời lao động.
+ Năng lực thực tế của người lao động: là tất cả những kiến thức, kinh nghiệm mà ngƣời lao động đã đúc kết đƣợc trong suốt quá trinh học tập và lao động. Mỗi ngƣời lao động có những khả năng riêng nên động lực khiến họ làm việc tích cực hơn cũng khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động lực lao động sẽ tăng lên. + Tính cách cá nhân của mỗi người lao động: Đây là yếu tố cá nhân bên trong mỗi con ngƣời và đƣợc thể hiện qua quan điểm của họ trƣớc một sự việc, sự kiện nào đó. Quan điểm của ngƣời lao động có thể mang tính tích cực hoạc tiêu cực do vậy tạo động lực cho ngƣời lao động còn chịu một phần ảnh hƣởng từ tính cách của họ.
- Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chất công việc mà ngƣời lao động đang làm. Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của ngƣời lao động, khi ngƣời lao động cảm thấy công việc đang làm là phù hợp với mình e 12 họ sẽ tích cực lao động để đạt đƣợc mục tiêu của mình ngƣợc lại khi công việc không phù hợp ngƣời lao động dễ dẫn đến tình trạng chán nản, không tập trung vào công việc. - Các yếu tố thuộc môi trƣờng quản lý. Tất cả những công tác quản lý trong tổ chức đều có những ảnh hƣởng nhất định tới động lực làm việc của ngƣời lao động, cụ thể.
+ Điều kiện và chế độ thời gian lao động: đây là yếu tố có ảnh hƣởng không nhỏ tới động lực lao động, khi điều kiện lao động thuận lợi, môi trƣờng làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh ngƣời lao động sẽ yêu thích công việc hơn, làm việc tốt hơn. + Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Là sự sắp xếp, bố trí công việc phục vụ cho ngƣời lao động đảm bảo môi trƣờng làm việc tốt nhất để ngƣời lao động phát huy một cách tối đa mọi khả năng của bản thân. Tạo điều kiện để quá trình sản xuất đƣợc liên tục nhịp nhàng. + Thù lao lao động: Là số tiền mà tổ chức trả cho ngƣời lao động vì những gì họ đã phục vụ.
Khi ngƣời lao động cảm thấy thu nhập nhận đƣợc là tƣơng xứng với công sức họ bỏ ra thì ngƣời lao động sẽ có động lực để làm việc phục vụ tổ chức. Thù lao lao động không công bằng sẽ có ảnh hƣởng xấu tới động lực lao động vì khi đó họ cho rằng minh đang bị đối xử không công bằng. Vì vậy ngƣời quản lý cần phải thực hiện công tác thù lao lao động một cách hợp lý nhất tạo tâm lý thoải mái và tinh thần đoàn kết tập thể. + Đánh giá kết quả làm việc: là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn tồn tại trong mọi tổ chức.
Hoạt động đánh giá kết quả làm việc xác định mức lao động mà ngƣời lao động đã thực hiện đƣợc để xét các mức khen thƣởng hoặc kỷ luật đồng thời qua công tác đánh giá cũng xem xét đƣợc năng lực, thành tích và triển vọng của từng lao động từ đó đƣa ra các quyết định nhân sự có liên quan. Kết quả đánh giá cũng có ảnh hƣởng đến e 13 tâm lý tình cảm của từng ngƣời nên nếu đánh giá không chính xác có thể dẫn đến hậu quả không mong muốn. + Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định những hành vi cá nhân của ngƣời lao động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp lý hiện hành và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi thực hiện kỷ luật lao động ngƣời quản lý nên tránh tình trạng xử lý mang tính cá nhân gây bất bình cho ngƣời lao động.
+ Công tác đào tạo cho lao động: là các hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức. Do vậy trong các tổ chức công tác đào tạo phát triển cần đƣợc thực hiện một cách bài bản có kế hoạch rõ ràng, đối tƣợng đƣợc đào tạo cũng phải chọn lựa kỹ lƣỡng tránh trƣờng hợp đào tạo sai tay nghề chuyên môn. Ngƣời lao động luôn muốn học tập nâng cao trình độ, tay nghề đáp ứng sản xuất, khi chính sách đào tạo hợp lý sẽ tạo đƣợc động lực cho họ làm việc. + Văn hóa trong tổ chức: là toàn bầu văn hóa ứng xử, giao tiếp trong tổ chức.
Nơi nào có đƣợc bầu không khí văn hóa tốt sẽ có đƣợc tinh thần đoàn kết cao, thực hiện công việc dễ dàng hơn, làm việc với tinh thần hăng say vui vẻ, cán bộ công nhân viên biết quan tâm tới nhau cả trong công việc và trong cuộc sống. Ngƣợc lại dù điều kiện cơ sở vật chất có cao, khen thƣởng, lƣơng bổng có tốt tới mấy cũng sẽ gây chán nản cho ngƣời lao động [32, tr. Viên chức, quyền và nghĩa vụ của viên chức. Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc.
Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: e 14 - Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ). - Đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Chủ yếu là các Viện nghiên cứu, Bệnh viện, Trƣờng học….trực thuộc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền [21], [22]. Viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
- Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.