Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về Hiệp định thương mại tự do (FTA) Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan về RCEP và ngành dệt may Việt Nam Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Một số nhận xét và khuyến nghị giải pháp 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO (FTA) 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực Tham khảo những nghiên cứu về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực, những nghiên cứu đánh giá tác động tới các nước tham gia, đặc biệt là những nước có nền kinh tế, ngành hàng xuất khẩu tương tự Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng đối với luận văn. Từ Thúy Anh và Chu Thị Mai Phương (2011), “Hiệu ứng biên giới trong Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực”. Trong bài viết này, nhóm tác giả phân tích yếu tố quyết định thương mại giữa các nước tham gia RCEP, tập trung vào hiệu ứng biên giới. Thông qua sử dụng mô hình Lực hấp dẫn, nghiên cứu đã chỉ ra được sự tồn tại của hiệu ứng biên giới đối với các nước tham gia RCEP, nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng cho các nhà lãnh đạo các nước RCEP khi tham gia đàm phán.
Đồng thời các tác giả cũng nêu rõ thiếu sót của nghiên cứu này khi chưa tính toán tới độ co giãn của cầu, thiếu sót nãy sẽ được nhóm tác giả bổ sung trong các nghiên cứu tiếp theo Viên nghiên cứu ASEAN và Đông Á (2012), “Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực”. Trong báo cáo về RCEP này, nhóm tác giả đã đưa ra những mô tả về hiệp định này, về giá trị cốt lõi cũng như mục đích chủ chốt của việc đàm phán RCEP. Đồng thời nhóm tác giả còn phân tích các thách thức trong việc đàm phán RCEP. Những thách thức có thể kể đến như : Những xung đột trong lịch sử cũng và các tranh chấp lãnh thổ; sự khác biệt trong giai đoạn phát triển, không chỉ về thu nhập mà còn về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, bộ máy quản trị…; việc theo đuổi mục tiêu hài hòa, thống nhất có thể dẫn đến một mẫu số chung thấp nhất, điều này biến RCEP trở nên không còn nhiều ý nghĩa; bên cạnh đó RCEP chưa được sự ủng hộ từ bên trong các nước tham gia, đặc biệt 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các doanh nghiệp thường có ít sự hiểu biết về các FTA và ít sử dụng các ưu đãi từ nó; cuối cùng, song song với RCEP, các nước thành viên cũng tham gia các đàm phán khác như TPP, các thỏa thuận song phương với EU, điều này có thể khiến cho việc đàm phán RCEP trở nên phức tạp hơn.
Yoshifumi Fukunaga và Ikumo Isono (2013), “Từ các hiệp định thương mại tự do ASEAN +1 đến Hiệp định đối tác toàn diện khu vực”. Trong nghiên cứu này nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu các FTA của ASEAN, đặc biệt là năm FTA hiện có với các nước trong ASEAN + 6, để xác định các lợi ích có thể cũng như những thách thức của RCEP. Qua đó nhóm tác giả nhận thấy rằng 5 FTA ASEAN + 1 đã cung cấp một mức độ tư do hóa không đủ, các về thuế quan lẫn thương mại dịch vụ. Năm FTA với các quy tắc xuất xứ khác nhau làm cản trở việc sử dụng có hiệu quả các FTA.
Nhóm tác giả đã đưa ra những đề nghị cho đám phán RCEP, cần giải quyết các thách thức bằng cách đưa ra các mục tiêu sau: Cắt giảm thuế quan hơn nữa (tới 95%), cần có những quy định rõ ràng về hàng rào thuế quan, có những quy định chung về quy tắc xuất xứ và tự do hóa thương mại ở mức cao hơn. Nói chung RCEP nên nhắm tới những mục tiêu cao hơn so với các FTA Asean +1 hiện nay.2 Các nghiên cứu về ngành dệt may Việt Nam: Việc gia nhập WTO và đặc biệt là tham gia các hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội lớn cho ngành thương mại Việt Nam, trong đó có ngành dệt may. Những nghiên cứu dưới đây đã đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về ngành dệt may Việt Nam, đồng thời phân tích những tác động khi Việt Nam tham gia các tổ chức, hiệp định thương mại tự do đến ngành này. Nguyễn Anh Dương và Đặng Phương Dung (2011), “Việt Nam tham gia WTO và các hiệp định thương mại tự do (FTA): Hàm ý đối với xuất khẩu hàng dệt may”.
Trong nghiên cứu này đã chỉ ra đc rất nhiều vấn đề mà xuất khẩu dệt may Việt Nam đang gặp phải, có thể kể ra như: Hàm lượng giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu nói chung còn hạn chế, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, chi phí sản xuất ở Việt Nam cũng chưa đạt mức cạnh tranh cần thiết. Bên cạnh đó 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hầu hết các doanh nghiệp còn hiểu biết hạn chế về thị trường nước ngoài và các vấn đề thương mại và phi thương mại quốc tế, bản thân các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng cũng chưa được thuận lợi hoá đáng kể. Ngoài ra trong một chừng mực nhất định, chính sách thương mại, đặc biệt là thuế quan của Việt Nam còn hay thay đổi và khó tiên liệu trước. Các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt nam còn gặp vấn đề từ quy chế kinh tế phi thị trường mà các thị trường xuất khẩu chính áp đặt đối với Việt nam… Cho đến nay, TPP có thể xem là một bước ngoặt đối với ngành dệt may Việt Nam thì cơ hội rất lớn kèm theo là không ít khó khăn.
Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo dành cho các doanh nghiệp trong ngành dệt may, cũng như cho các đối tượng thuộc Chính phủ, Hiệp hội Dệt May Việt Nam, và các cơ quan nghiên cứu khác Phạm Minh Đức (2014), “Ngành dệt may trong bối cảnh thực hiện Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương”. Trong báo cáo này, tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt tác giả đưa ra bản so sánh với các nước có ngành dệt may phát triển nhất thế giới hiện nay như Trung Quốc, Bangladesh, Mexico và Indonesia. Cũng trong báo cáo này, tác giả đã chỉ ra tác động tích cực của TPP đến ngành dệt may Việt Nam, tính đến năm 2020, sau khi thực hiện TPP, sản lượng, xuất nhập khẩu ngành dệt may đều tăng gần gấp đôi so với hiện nay. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những cơ hôi, thách thức của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia TPP.
Theo tác giả TPP là hiệp định thương mại quan trọng hơn tất cả các FTA mà Việt Nam đã ký kết trước đây, lợi ích tiềm năng lớn nhưng chi phí rủi ro cũng lớn. Bởi vậy cần phải có cách tiếp cận mở cửa hơn trong đàm phán TPP, tái cấu trúc ngành để hoàn thiện chuỗi cung ứng, thúc đẩy mối liên kết giữa các doanh nghiệp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh đồng thời nâng cao nguồn nhân lực. Bài báo cáo đã đưa ra được một cái nhìn tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, đồng thời phân tích được các tác động của TPP đến thương mại hàng dệt may Việt Nam, những cơ hội, thách thức mà TPP mang lại, cũng như một số hàm ý chính sách. Tuy nhiên trong báo cáo này, những dự kiến về tác động của TPP được tác giả 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sử dụng số liệu tính toán từ các nghiên cứu trước, điều này khiến cho bài báo cáo thiếu tính mới và chính xác.
Inama và cộng sự (2011),”Đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam”. Nghiên cứu đã có một đánh giá khá toàn diện và chi tiết về tác động của quy tắc xuất xứ đới với sản phẩm cụ thể từ góc độ Việt Nam. Thông qua phân tích chi tiết từng điều khoản trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia như AFTA và Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, khu vực thương mại tự do Úc – New Zealand – Việt Nam, EC – Việt Nam, Ấn Độ - Việt Nam, Hàn Quốc – Việt Nam, Việt Nam – Nhật Bản. Nhiều mặt hàng có liên quan đến quy tắc xuất xứ như dệt may, thuỷ sản, da giày, nông phẩm.
Nghiên cứu đã xác định lợi ích cần đạt được khi đàm phán, nghĩa là các quy tắc xuất xứ thuận lợi cho xuất khẩu, tính ổn định và minh bạch về quy tắc xuất xứ trong FTA để tăng tính khả dụng. Nghiên cứu cũng đề cập đến một số khía cạnh của các quy định thực hiện quy tắc xuất xứ. Các đề xuất đưa ra nhằm cải thiện quy tắc xuất xứ trong các FTA của Việt Nam với các đối tác khác nhau. Các đề xuất này liên quan đến cách tính tỷ lệ phần trăm và quan hệ giữa các tiêu chí chung về quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể.
Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo rất lớn đặc biệt là đối với ngành dệt may, khi quy tắc xuất xứ có ảnh hưởng lớn tới ngành dệt may Việt Nam khi tham gia RCEP 1.3 Những nghiên cứu về đánh giá tác động của các hiệp định thương mại Trong thời điểm hiện tại, Việt Nam đang tích cực đàm phán tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do với các nước, các khu vực khác nhau. Bởi vậy, việc phân tích, đánh giá tác động của các hiệp định thương mại có giá trị tham khảo hết sức quan trọng. Bên cạnh những đánh giá định tính, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các mô hình định lượng như CGE, GATP, Gravity hay Smart như một công cụ hữu hiệu để nâng cao khả năng dự báo, nâng cao hiệu quả đánh giá tác động 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vanzetti (2010) “Phân tích định lượng tác động tiềm ẩn của các FTA”. Tác giả sử dụng phương pháp cân bằng tổng quát để đánh giá các tác động của FTA tới kinh tế Việt Nam.
Sử dụng hai kịch bản: 2012 (một phần), 2018 (hoàn toàn).