PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài - phạm vi nghiên cứu. "Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và căn bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba" [ 7, 28 ]. Những phát hiện về vai trò, vị trí của thể loại trong dòng chảy văn học của M.Bakhtin đã khiến giới nghiên cứu, phê bình văn học, trước đây vốn chỉ quan tâm đến nội dung, trường phái, trào lưu., nhìn vấn đề thể loại bằng con mắt khác, ít xa lạ hơn.
Nhiều công trình nghiên cứu đã mạnh dạn đưa ra những đánh giá chung về đặc điểm của một nền văn học thông qua hệ thống thể loại. Không ít nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nhất trí với quan điểm:"Để có thể phân kì lịch sử văn học một cách chính xác, thể loại là một tiêu chí quan trọng", thậm chí có người còn khẳng định:"lịch sử văn học là lịch sử phát triển của thể loại văn học" (Bùi Duy Tân). Thực tế chứng minh, thể loại là một tiêu chí quan trọng để khảo sát các tiến trình văn học sử. Từ việc đổi thay cơ bản của một hệ thống thể loại, người ta có cơ sở để bàn tới sự thay thế của một hệ hình văn học này đối với một hệ hình văn học khác, của một thời đại văn học này đối với một thời đại văn học khác.
Ở phương Tây, đó là "sự phong thánh của các thể loại nhỏ" (từ dùng của M.Bakhtin), với trung tâm điểm là tiểu thuyết, nó "diễu nhại" các "thể loại lớn" của nền văn học Cổ đại Hy-La. Còn ở phương Đông, đó là sự đổi thay của nền văn học từ phạm trù trung đại sang hiện đại, thể hiện rõ nét nhất ở quá trình dịch chuyển của các thể loại từ vùng ngoại biên vào vùng trung tâm. Những thể loại trong nền văn học cổ, trung đại vốn bị coi thường, bị xem là "ngoại thư, thạp thuyết" thì đến một thời điểm nhất định, trước những tác động của hoàn cảnh lịch sử đã tự vận động để trở thành những thể loại chủ chốt của nền văn học mới. Một sự đổi thay ở qui mô như vậy cũng đã diễn ra trong lịch sử văn học Việt Nam, trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Vào thế kỷ XVIII, trong bài Tựa tập thơ Tinh xà kỷ hành, Ngô Thì Nhậm viết: "(.) Nước Việt ta lấy văn hiến giữ nước, thơ ca thai ngén từ đời Lý, thịnh vượng ở đời Trần, dấy lên rầm rộ vào đời Hồng Đức, đời Lê. Một bộ Toàn Việt thi lục, xét về cổ thể thì không nhừng thi ca đời Hán, đời Tấn. Xét về cận thể thì không nhường thi ca các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh nhả ngọc, phun châu, thật 1 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Nhung đáng gọi là một nước thơ" [41, 76]. Những lời ca ngợi đó đủ để nói lên bề dày của văn học truyền thống, đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của thơ ca trong nền văn học quá khứ.
Cho đến hết thế kỷ XIX, Việt Nam đã có hơn 900 năm phát triển văn học - một nền văn học mang tính khu vực, sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các thể loại văn học Trung Quốc, với thơ ca nằm ở vị trí trung tâm. Sang đầu thế kỷ XX, trên tiến trình văn học dân tộc diễn ra một quá trình chuyển đổi loại hình, phá vỡ những ranh giới khu vực, đón nhận những nguồn ảnh hưởng khác, từng bước hoà nhập vào quĩ đạo văn học toàn cầu. Trên cơ sở đó, diễn ra song song sự phân giải cấu trúc nền văn học Hán Nôm trung đại và tái cấu trúc một nền văn học mới, viết bằng chữ quốc ngữ, theo định hướng cận hiện đại hoá. Thơ tuy vẫn phát triển với một đội ngũ sáng tác đông đảo nhưng càng về sau thì vai trò độc tôn của nó càng giảm.
Thơ rất gần với văn xuôi, thể thơ tự do phát triển, ngôn từ không bị gò ép bởi niêm luật mà trở nên phóng túng hơn. Điều đó chứng tỏ bước sang thời kỳ cận hiện đại những thể loại vốn được coi là cao quý, chính thống như thơ ca, phú, văn chính luận…đã không còn được sáng tác nhiều và tôn trọng như trước.Thay vào đó là sự nảy nở của các thể văn xuôi mới, du nhập từ phương Tây (tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… ) và các thể văn cách tân từ văn học truyền thống, trước đây bị coi là "nhỏ bé", "tầm thường" (truyện ký, tuỳ bút, ký sự … ). Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu cũng đã đề cập tới sự đổi thay này: "Các cụ ta xưa không hề viết kịch bản và tiểu thuyết (….) văn xuôi thì trong Việt văn hầu như không có (…) các cụ chỉ viết văn vần như thơ, phú, ca, ngâm…"[16, 412]. Và khi nhìn nhận về "tương lai của một nền quốc văn mới" ông đưa ra nhận xét: "các thể văn cũ biến cải đi, các thể văn mới (tiểu thuyết, phê bình, kịch…) được các nhà chế tác viết theo…" Những kiến giải sơ lược trên đây cho thấy, vấn đề thể loại luôn là một vấn đề khó và chưa được khai thác một cách thấu triệt, mặc dù nó giữ một vai trò không kém phần quan trọng trong tiến trình phát triển văn học.
Trước những đổi thay của văn học từ phạm trù trung đại sang hiện đại, từ nền văn học viết bằng chữ Hán, chữ Nôm sang nền văn học viết bằng chữ quốc ngữ, hệ thống thể loại cũng đã có sự vận động, biến đổi. Văn xuôi nghệ thuật phát triển làm lu mờ vị trí của thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, kịch,… như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, tạo nên một diện mạo mới cho văn học dân tộc. Những đặc điểm này là lý do đầu tiên và quan 2 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Nhung trọng nhất để chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là vấn đề thể loại, cụ thể là những thể văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ. Có một điều đáng lưu ý là, sự đổi thay hệ thống thể loại không phải thông qua một sự "lật đổ, cách mạng" nào đó, những cái mới đến thay thế những cái cũ nhưng không phải chúng hoàn toàn xuất hiện "từ hư vô".
Lịch sử văn học thế giới cung cấp vô số tư liệu để chứng minh rằng trước khi một hay một vài thể loại nào đó trở nên là "chủ chốt, quan trọng, không thể thiếu" trong một giai đoạn của một nền văn học cụ thể, chúng đã phải kinh qua một quá trình lâu dài phát sinh, phát triển, bị kiểm nghiệm, bị thử thách và phải tự chứng tỏ "quyền tồn tại" của bản thân. Các thể loại văn học Việt cũng không nằm ngoài qui luật đó. Vì vậy, khi tìm hiểu một thể loại nào đó và muốn khẳng định vị trí của nó trong một nền văn học cần thiết phải hiểu rõ được qui luật vận động, phát triển này. Hơn thế, sự phát triển rực rỡ của văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ và sự "định hình", phát triển của hàng loạt "thể loại mới" được du nhập từ phương Tây hoặc cách tân từ những thể loại của văn học truyền thống ở thời kỳ hiện đại không chỉ là sự tự thân mà phải có một xuất phát điểm.
Xuất phát điểm cho sự khởi đầu mới này là ở những năm đầu thế kỉ XX và được thể hiện khá rõ trên những tờ báo, tạp chí đầu tiên của nền báo chí Việt Nam. Xét trong lịch sử báo chí thì Nam Phong không phải là là tờ tạp chí ra đời đầu tiên, nhưng nó lại có vai trò nhiều mặt trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong vài chục năm đầu thế kỉ XX. Xét về quy mô, dung lượng, mức độ sâu rộng của kiến thức phản ánh thì không có tạp chí nào đầu thế kỷ XX có thể so sánh với nó.Tuy mang tính bách khoa như vậy nhưng Nam Phong vẫn giành phần trang trọng nhất, lớn nhất cho văn học như: du ký, du hành, tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn, thơ ca, lý luận phê bình… Với lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, dù muốn dù không Nam Phong đã để lại những dấu ấn đáng kể. Nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn giao thời không thể bỏ qua Nam Phong tạp chí.
Những sáng tác được đăng tải trên Nam Phong thể hiện một đời sống thể loại hết sức phong phú, đặc biệt là "truyện ngắn" và "ký". Hai thể loại này không chỉ làm nên nét đặc trưng riêng cho Nam Phong mà còn góp phần đắc lực vào quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam. Đây là điều người viết đặc biệt quan tâm và đã chọn các sáng tác trên Nam Phong cho đề tài của mình. 3 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Nhung Như đã đề cập đến ở trên, thể loại là một vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi.
Đây cũng là một lĩnh vực rất khó giống như con đường nhiều chông gai mà người bộ hành nào cũng ngại đi qua. Quyết định đặt chân lên con đường ấy người viết phải cố gắng rất nhiều. Tuy nhiên, vì khả năng và kiến thức còn hạn chế nên người viết chỉ khám phá một phần hết sức nhỏ bé đó là một vài thể văn xuôi quốc ngữ, cụ thể là hai "thể loại nhỏ" truyện ngắn và ký. Mặt khác, lịch sử văn học Việt Nam rất bề thế mà khuôn khổ của luận văn thì có hạn, chúng tôi chỉ xin tập trung vào một giai đoạn - giai đoạn văn học có nhiều biến động và có sức ảnh hưởng sâu đậm nhất đến tiến trình phát triển của cả nền văn học - giai đoạn giao thời (1900-1930) và cũng chỉ xét trên tờ tạp chí tiêu biểu nhất - tạp chí Nam Phong.
Trước khi tiến hành trình bày các vấn đề tiếp theo, chúng tôi muốn lưu ý một điểm chúng tôi muốn lưu ý một điểm, việc chúng tôi dùng thuật ngữ "thể loại nhỏ" để gọi tên các thể văn xuôi nghệ thuật không phải là sự tuỳ tiện. Thuật ngữ này, M.bakhtin (nhà nghiên cứu văn học Nga) đã dùng khi viết về quá trình vận động, phát triển của tiểu thuyết trong lịch sử văn học và nó cũng đã xuất hiện trong cuốn Truyện ngắn Nga hiện đại của nhà văn E. Còn việc tại sao lại gọi các thể loại văn xuôi nghệ thuật là các "thể loại nhỏ" chúng tôi sẽ giải thích ở chương đầu của luận văn.