Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổ chức rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong bài làm văn nghị luận ở lớp 11 trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy 1.
Về tư duy * Tư duy: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí. Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận.
Tư duy là một hoạt động nhận thức không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triến của xã hội loài người. Trong quá trình phát triển của mình con người không chỉ tư duy nhằm giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra mà còn tiến hành tư duy nhằm lĩnh hội tri thức và phát triển nhân cách của mình, trên cơ sở đó đóng góp kết quả hoạt động của mình vào kho tàng văn hoá xã hội của nhận loại. theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, hoạt động nhận thức của con người diễn ra theo một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến hoạt động thực tiễn là một quá trình nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan" (Lê-nin). Tâm lí học cho rằng: "Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có tính quy luật của sự việc và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết" (Phạm Minh Hạc-chủ biên, Tâm lí học tập 2, Nxb Giáo dục, 1989).
Như vậy tư duy nằm trong giai đoạn nhận thức lí tính, nó là sự phản ánh một cách gián tiếp khái quát hiện thực khách quan vào bộ não của con người được thể hiện trong quá trình hoạt động thực tiễn. Tư duy nảy sinh trên cơ sở của nhận thức cảm tính, những vượt xa giới hạn của nhận thức cảm tính. Tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự việc, hiện tượng đồng thời nhờ tư duy con người tìm kiếm cái mới để tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới. Rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh lớp 11 trong bài làm văn nghị luận là một hoạt động có mối liên hệ trực tiếp tới các hoạt động tư duy, tới vấn đề lôgic và đó là một hoạt động mang tính trí tuệ cao.
Về lập luận * Lập luận Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc) đến một kết luận nào đó mà người viết (nói) muốn đạt tới. Lập luận được định nghĩa rất khác nhau tùy theo ngữ cảnh của hiểu biết về lí tính như là một hình thức của tri thức. Định nghĩa lôgic là hành động sử dụng lí tính để rút ra một kết luận từ các tiền đề nhất định bằng cách sử dụng một phương pháp luận cho trước, và hai phương pháp tường minh được sử dụng rộng rãi nhất để đạt đến kết luận là lập luận suy diễn và lập luận quy nạp. Tuy nhiên, trong các ngữ cảnh triết học lí tưởng, lập luận là quy trình trí óc đem lại cho sự tưởng tượng, tri giác, ý nghĩ, và cảm giác của ta bất cứ cái gì có thể hiểu được mà những hành vi trí óc kia có thể hàm chứa; và do đó liên hệ trải nghiệm của ta với ý nghĩa toàn thể.
Chi tiết cụ thể của các phương pháp lập luận là mối quan tâm của các ngành như triết học, lôgic, tâm lý học, và trí tuệ nhân tạo. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Các kiểu lập luận Lập luận suy diễn là lập luận cho trước các tiền đề đúng, kết luận phải được rút ra từ đó và nó không thể sai. Trong kiểu lập luận này, kết luận là cố hữu trong các tiền đề. Do đó, lập luận suy diễn không làm tăng cơ sở tri thức của ta và được coi là không có tính mở rộng.
Các ví dụ cổ điển về lập luận suy diễn đã có trong các tam đoạn luận như dưới đây: 1. Con người không bất tử. Socrates là một con người. Do đó, Socrates không bất tử.
Lập luận quy nạp, nếu các tiền đề đúng thì kết luận được rút ra với một xác suất đúng nào đó. Phương pháp này có tính mở rộng, do nó tạo thêm thông tin bên ngoài những gì đã được hàm chứa trong chính các tiền đề. Ví dụ cổ điển sau đây là của David Hume: 1. Từ xưa đến nay, Mặt Trời vẫn mọc ở đằng Đông.
Do đó, ngày mai Mặt Trời cũng sẽ mọc ở đằng Đông. Lập luận loại suy, hay suy luận để tìm ra cách giải thích tốt nhất. Phương pháp này phức tạp hơn về cấu trúc và có thể dùng đến cả các luận cứ quy nạp và suy diễn. Đặc điểm chính của loại suy là phương pháp này ủng hộ một kết luận bằng cách chứng minh rằng các lời giải thích khác là sai, hoặc chứng minh khả năng xảy ra của kết luận được ủng hộ, với một tập hợp các giả thuyết gây tranh cãi được cho trước.
Phép tương tự là lập luận bằng tương tự đi từ trường hợp cụ thể này tới trường hợp cụ thể khác. Kết luận của một phép tương tự chỉ là có thể đúng (plausible). Lập luận bằng tương tự rất thường gặp trong nhận thức thông thường, khoa học, triết học và khoa học nhân văn, nhưng đôi khi chỉ được chấp nhận như là một phương pháp bổ trợ, hay một cách tiếp cận được cải tiến là lập luận dựa trên tình huống về các suy luận bằng phương pháp tương tự. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận 1. Khái niệm bác bỏ và thao tác lập luận bác bỏ Theo từ điển Tiếng Việt, bác bỏ là bác đi, gạt đi, không chấp nhận. Bác bỏ luận điệu vu khống. Dự án bị bác bỏ.
Lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác,. Từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục nghe. Có thể bác bỏ lập luận bằng cách bác bỏ luận điểm, luận cứ và cách lập luận. Muốn bác bỏ hiệu quả, có sức thuyết phục, ta cần nắm vững thao tác lập luận bác bỏ, cần diễn đạt rành mạch, sáng sủa, uyển chuyển để người có quan điểm, ý kiến sai lệch và người nghe, người đọc dễ tiếp nhận, tin theo.
Các phương pháp bác bỏ * Các phương pháp bác bỏ trong biện luận - Bác bỏ bằng lôgíc Lôgíc là khoa học nhiên cứu các quy luật và hình thức của tư duy, nghiên cứư sự suy luận đúng đắn. Bên cạnh đó, lôgíc còn thể hiện trật tự chặt chẽ, tất yếu giữa các hiện tượng, sự gắn bó giữa các ý hay cách suy luận chặt chẽ. Do vậy, bác bỏ bằng lôgíc là gạt đi, không chấp nhận ý kiến sai lầm dựa trên sự hiểu biết và vận dụng những suy luận đúng đắn, sự chặt chẽ, tất yếu giữa các hiện tượng, giữa các ý. Stalin đã từng nhận định về lời biện luận của Lê-nin rằng: "Lúc đó, điều khiến tôi khâm phục chính là sức mạnh lôgíc không thể chiến thắng nằm trong lời diễn thuyết của người.
Sức mạnh lôgíc này tuy có khô khan, nhưng nó lại tóm chặt lấy người nghe, từng bước từng bước làm xúc động, và cuối cùng thì cầm tù người nghe, không từ một ai. Tôi còn nhớ lúc đó có rất nhiều đại biểu nói: "Lôgíc trong bài nói của Lê-nin khác nào những xúc tu vạn năng, sẽ kẹp chặt lấy anh từ mọi phía bằng kìm, khiến anh không thể thoát khỏi. Nếu anh không đầu hàng, sẽ thất bại hoàn toàn" [9, 50]. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bác bỏ bằng lôgíc rất đa dạng, phong phú, nhưng cốt lõi nhất vẫn là dựa vào những quy luật tất yếu của nhận thức và tuy duy để công kích đối phương trong các loại tranh luận và giao tiếp đời thường.
Bác bỏ bằng lôgic có rất nhiều cách như vạch trần mâu thuẫn, phép phản bác phản chứng, lấy luận cứ chứng minh tại chỗ. - Bác bỏ bằng nghệ thuật ngôn từ Ngôn ngữ vốn là vỏ của tư duy, xưa nay ngôn ngữ được sử dụng như thứ vũ khí lợi hại trong tranh luận, bác bỏ một vấn đề sai lầm nào đó. Ngôn ngữ được sử dụng biến hoá khôn lường trong nghệ thuật hùng biện. Có người nhận xét rằng: Khổng Tử thì lời ngắn ý xa, dẫn dắt ra từng bước từng bước theo tầng tầng lớp lớp.
Mạnh Tử thì sắc lạnh tài hoa, khí lớn ào ạt. Trang Tử thì mặc sức tung hoành, dạt dạo sóng vỗ. Hàn Phi thì biện bác tâm lí, thấu tình đạt lí.Các bậc thầy đó ba tấc lưỡi vừa uốn lên thì lời vàng ý ngọc, hào quang muôn toả. Cách bác bỏ bằng ngôn từ rất đa dạng như: Hỏi khéo đối phương, phát vấn, hỏi để chặn hỏi, biết rõ mà vẫn hỏi.
- Bác bỏ bằng mưu chước Mưu chước là kết tinh trí tuệ con người hàng ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội; là hạt minh châu sáng nhất trong kho tàng tri thức loài người. Mưu chước có thể khiến bạn cứ cười cười nói nói mà vẫn đánh bại kẻ địch, khiến bạn nhẹ nhàng đạt được chiến thắng trong những cuộc tranh luận gay go. Bác bỏ sai lầm của đối phương không chỉ bằng ngôn ngữ trơn tru, bằng lôgic chặt chẽ mà phải bằng cả mưu kế đầy trí tuệ. Bác bỏ bằng mưu chước có thể sử dụng các cách như: Khéo khen, gậy ông đập lưng ông, khích tướng, giỏi mà như dốt.
- Bác bỏ bằng vạch trần nguỵ biện Nguỵ biện là luận chứng như đúng mà lại sai cho một sự giả dối.