Chương 1: Trình bày cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sử dụng lý luận nghiên cứu và các công cụ nghiên cứu chủ yếu của hai nhà kinh tế học: Fred R.David va Micheal Porter. - Chương 2: Trình bày sơ lược về cơ cầu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của Lạc Việt. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm cùng những yếu tố của môi trường nội bộ để rút ra những điểm mạnh và điểm yếu chính của công ty Bên cạnh đó, phân tích môi trường vĩ mô và những đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến hoạt động của trung tâm như thế nào qua những cơ hội và đe doạ chủ yếu.
-_ Chương 3: Từ những phân tích tác động của yếu tố bên trong và bên ngoài, chương ba sẽ xây dựng những chiến lược có thể chọn và định lượng chúng để quyết định chiến lược nên thực hiện. Cuối cùng là căn cứ vào nguồn lực có hạn của doanh nghiệp dé một số giải pháp để thực thi chiến lược đó. Téng quan tài liệu nghiên cứu Công nghệ thông tin là một ngành đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay và các năm sắp tới, vì vậy việc xây dựng chiến lược kinh doanh là hết sức cần thiết. Tuy nhiên tại Việt Nam chiến lược thì ít doanh nghiệp thực hiện, hoặc thực hiện nhưng không hoàn thành, chỉ trên lý thuyết.
Nhưng vẫn là mục tiêu của các chủ doanh nghiệp thường nhắc. đến trong các cuộc họp thường kỳ để mọi nhân viên trong công ty có mục đích hướng đến. Theo thông tin từ trang ict news có những đánh giá về thị trường phần mềm của Việt Nam như sau: Tuy nhiên, theo đánh giá của Tholons tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn là một trong số những quốc gia chủ yếu cung cấp dịch vụ thuê ngoài các dịch vụ CNTT (Information Technology Services Outsourcing - ITO), có thé thay thé Trung Quốc, Ấn Độ trong hoạt động cung cấp dịch vụ này. Chỉ phí lao động thấp, môi trường kinh doanh được cải thiện, lực lượng lao động có tay nghề cao.
vẫn đang là những lý do khiến Việt Nam được các công ty lớn như Intel, IBM, Teleperformance và Siemens lựa chon dé thiết lập trung tâm phân phối. Đáng lưu ý là TP.HCM có lợi thế về tiếng Pháp (Việt Nam đã có một thời kỳ dài từ 1850- 1950 là thuộc địa của Pháp) nên có tiềm năng "lọt mắt xanh" của các doanh nghiệp CNTT Pháp như Tập đoàn ESI, Mega International, SYSUN, Worketer (gần đây, các DN này đã thực hiện các chuyền thăm đầu tư thăm dò ở TP.HCM và Hà Nội đề khảo sát khả năng hợp tác triển khai cung cấp. dịch vụ CNTT). Tác giả đã nghiên cứu luận văn của Nguyễn Ngọc Hạnh (2010), Xây dựng chiến lược phát triển trung tâm công nghệ phần mềm TP HCM, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học Tp HCM, tác giả đề cập đến các dự án tại các cơ quan nhà nước, chưa có tính cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra, tác giả nghiên cứu một số sách giáo trình giảng dạy, chủ yếu tham khảo sách giáo trình từ Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng do tập thể tác giả giảng viên của trường đại học kinh tế Đà Nẵng biên soạn dùng để giảng dạy, như Giáo trình Quản trị chiến lược do PGS.TS Lê Thể lới và các tác giả cùng biên soạn; Giáo trình Quản trị chiến lược kinh doanh của PGS. Nguyễn Thị Như Liêm (2000). giáo trình dùng cho chương trình cao học Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIEN LUQC KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1.
CO SO LY LUAN VE CHIEN LUQC KINH DOANH 1. Khái niệm về chiến lược Có nhiều định nghĩa về chiến lược, mỗi định nghĩa ít nhiều có sự khác biệt tuỳ thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Chandler, một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược vào năm 1962 cho. rằng “ Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp và sự chấp nhận chuỗi các hành động cùng phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”.
Quinn, 1980: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu cơ bản, các chính sách và chuỗi các hành động của tổ chức vào trong một tổng thể dính kết chặt chẽ”. Sau đó, Jonson và Schole định nghĩa lại chiến lược trong môi trường biến đổi “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tô chức về dài hạn nhằm dành lợi thế cạnh tranh cho tô chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường ngànhh thay đổi, để đáp ứng được nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan”.Porter, 1996: “ Thứ nhất, chiến lượt là sự sáng tạo ra vị thế có. giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biết. Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đôi trong cạnh tranh.
Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cae các hoạt động cảu công ty”. Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng có. mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược kinh doanh bao gồm không chỉ những gì doanh nghiệp muốn thực hiện mà còn là cách thức thực hiện những việc đó.
Đó là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó. Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những iểm mạnh cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội, thách thức của môi trường. Quan điểm mới về cách tiếp cận chiến lược hiện nay “Chiến lược là tạo dựng một vị thế duy nhất và có giá trị nhờ việc triển khai một hệ thống các. hoạt động khác biệt với những gì đối thủ cạnh tranh thực hiện ”.
Khái niệm về chiến lược kinh doanh(cấp đơn vị kinh doanh — SBU) Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể.Abelll, để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải giải quyết ba vá hính , d6 1a: (1) Nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thoả mãn (What), (2) Céc nhém khách hàng hay ai được thoả mãn (Who), và (3) Các khả năng khác biệt hoá hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thoả mãn (How). Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngànhh [1. Khả năng khác biệt hóa Nhu cầu khách hàng là những mong muốn, đòi hỏi hay khao khát của khách hàng mà có thể sẽ được thoả mãn bằng các đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ. Sự khác biệt hoá sản phẩm là quá trình tạo một lợi thế bằng việc thiết kế sản phẩm.
Các nhóm khách hàng và phân loại thị trường Quyết định cơ bản của mọi công ty liên quan đến chiến lược cấp đơn vị kinh doanh. Đó là quyết định về thị trường mục tiêu để hướng sự phục vụ của mình các công ty phải chia khách hàng thành từng nhóm dựa trên các khác biệt về nhu cầu của họ. Quá trình đó được gọi là quá trình phân đoạn thị trường, nghĩa là phát triển những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của mỗi phân đoạn và phục vụ tập trung, hay công ty chỉ tập trung vào một phân đoạn. Ý nghĩa và vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh được xây dựng nhằm phát hoạ hay chỉ ra viễn cảnh của đơn vị trong tương lai, chiến lược cung cấp thông tin giúp doanh nghiệp phân tích và đánh giá sự biến động của các nhân tố chủ yếu bên ngoài cũng như đánh giá được khách quan những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp.
Chiến lược đưa ra khung định hướng cho các nhà quản lý tư duy và hành động thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện. Là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tắt cả mọi nguồn lực và nhân tố trong đơn vị, tạo cơ sở để tăng sự liên kết và gắn bó giữa mọi thành viên trong đơn vị. Chiến lược giúp các nhà quản trị thấy rõ những cơ hội và nguy cơ xảy ra trong hiện tại và tương lai. Từ đó tạo sự chủ động trong phòng ngừa và đối phó rủi ro, cũng như tận dụng các cơ hội và phát huy lợi thế của bản thân đơn vị.
CÁC LOẠI CHIẾN LƯỢC CÁP ĐƠN VỊ KINH DOANH Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi đơn vị kinh doanh đều có thể tạo dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh, nếu nó thực hiện các bước đi hợp lý cho phép giành được vị trí hàng đầu trong việc hấp dẫn khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Các bước đi hay lộ trình mà mỗi đơn vị kinh doanh thực hiện có thể khác nhau nhưng điều cốt yếu là phải để khách hàng cảm nhận được. giá trị vượt trội so với những gì mà đối thủ cung cấp. Các đơn vị kinh doanh sẽ có gắng một cách kiên định đề tạo dựng lợi thế cạnh tranh thông qua một chuỗi vô hạn các chiến lược.
Chiến lượt cạnh tranh được thiết kế nhằm khai thác chuỗi giá trị và sức mạnh khác tạo ra lợi thế cạnh tranh. Nhu vậy, mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng tạo dựng cho mình các chiến. lược cụ thê phù hợp với các phân tích sức mạnh và điểm yếu bên trong, giá trị mà nó có thể cung cấp, môi trường bên ngoài và nhu cầu của khách hang. Mac dầu có rất nhiều chiến lược cạnh tranh khác nhau, song một cách khái quát lợi thế cạnh tranh được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản là chỉ phí thấp hoặc khác biệt hóa.
Kết hợp hai hình thức cơ bản này của lợi thế cạnh tranh và phạm vi hoạt động của đơn vị kinh doanh sẽ hình thành nên các chiến lược cạnh tranh tổng quát đó là chiến lược khác biệt hoá sản phẩm, chiến lược hạ thấp chỉ phí, chiến lược chỉ phí tốt nhất và chiến lược tập trung. Các chiến lược cạnh tranh này chính là sự kết hợp các quyết định khác nhau về các yếu tố nên tảng là sản phẩm, thị trường và năng lực phân biệt. Chiến lược chỉ phí thấp nhất Chiến lược chỉ phí thấp nhất là tổng thể các hành động nhằm cung cấp.