Chương 1: Co sé ly luận về thương hiệu và phát triển thương hiệu. Chương 2: Thực trạng kinh doanh và công tác phát triển thương hiệu Trần của Công ty TNHH MTV Âm thực Trần. Chương 3: Giái pháp phát triển thương hiệu tại Công ty TNHH MTV. Âm thực Trần.
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết về thương hiệu và phát triển thương hiệu. Thương hiệu, là đối tượng liên tục được nghiên cứu xem xét và định nghĩa lại. Theo quan điểm truyền thống, thương hiệu là: “Tên, liên kết với một hoặc nhiều mục trong các dòng sản phẩm, được sir dung dé xác định nguồn gốc của sản phẩm” (Kotler 2000, trang 396). Hiệp hội Marketing Hòa Kỳ (AMA) định nghĩa thương hiệu là “một cái tên, từ ngũ, ký hiệ biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc một nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của đố thủ cạnh tranh”.
Trong quan m này, như Keller nói, “về mặt kỹ thuật, bất cứ khi nào một nhà tiếp thị tạo ra một cái tên mới, logo, biểu tượng cho một sản phẩm mới, họ đã tạo ra một thương hiệu”. Ông nhận ra, thương hiệu ngày nay là nhiều hơn thế. Như có thể thấy, thương hiệu chỉ là một bước trong toàn bộ quá trình tiếp thị để bán sản phẩm. Kotler (2000) đề cập đến xây dựng thương hiệu là “một van đề lớn trong chiến lược sảm phẩm”.
Theo quan điển mới - quan điểm tổng hợp, thương hiệu không chỉ là một cái tên hay là một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều. Một thương hiệu có thể được cấu tạo bởi nhiều phần: tên thương hiệu, dấu hiệu đặc trưng của thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền, bằng sáng chế, giấy chứng nhận giải pháp hữu ích. Giá trị thương hiệu, trên góc độ tài chính thì J.Walker Smith thuộc Akelovic Clancy Schudman cho ring: Gia tri thương hiệu là trị giá có thể do lường được về mặt tài chính của công việc kinh doanh một sản phẩm hay dich vụ thông qua các hoạt động và chương trình kinh doanh thành công; theo John Brodsky thuộc tập đoàn NPD Group: Giá trị thương hiệu là sự hiệu quả về mặt doanh thu và lợi nhuận mà công ty thu được từ kết quả của những nỗ lực marketing trong những năm trước đó so với thương hiệu cạnh tranh; Peter Farquhar thuộc trường Claremont Gradute phát biểu: Giá trị thương hiệu là phân giá trị tăng thêm cho công ty và khách hàng của sản phẩm được gắn thương hiệu đó. Trên góc độ người tiêu dùng theo Market Facts, giá trị thương hiệu là sự hài lòng của khách hàng có tiếp tục mua thương hiệu của công ty hay không, theo định nghĩa của David A.Aaker (Trường Đại học California — Mỹ) đưa ra vào năm 1991 là khá phổ biển và được nhiều học giả, nhiều nhà quản trị tán đồng trong nghiên cứu và phân tích về giá trị thương hiệu, theo K.L Keller tại Darthmouth College cho rằng: giá trị thương hiệu là kiến thức của khách hàng về thương hiệu (brand knowledge).
Các thành phần của thương hiệu, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giói K.L Keller cho rặng giá trị thương thiệu gồm 2 phần là: nhận thương hiệu (brand awareness) và ấn tượng về thương hiệu (brand image). Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 'Việt Nam, giá trị thương hiệu trên thị trường Việt nam gồm 5 thành phần sau: sự nhận biết thương hiệu, sự trung thành đối với thương hiệu, cảm nhận i lượng của khách hàng đối với sản phẩm, sự liên tưởng của khách hàng về các thuộc tính thương hiệu, việc bảo hộ các yếu tổ thương hiệu. Định vị thương hiệu, định vị xuất hiện lần đầu tiên khi Jack Trout đề cập đến trong bài viét “Positioning” is a game people play in today’s me-too market place” (tam dich: định vị là trò chơi cho thị trường hiện tại với các sản phẩm ăn theo) đăng tải tại Industrial Marketing, trong bài báo này, ông cho rằng người tiêu dung bị tắn công bởi rất nhiều thông tin quảng cáo khác nhau. Chính vì , họ hình thành phản xạ tự nhiên là không thu nạp các thông tin quảng cáo vào đầu.
Các sản phẩm bắt chước (me-too product) bắt buộc phải sử dụng chiến lược định vị để thu hút được sự chú ý của nhiều người tiêu dung. Tiếp đó, năm 2001, ông tung ra một cuốn sách mới đề cập cụ thể hơn về định vị “Positioning: the Battle for Your Mind”. Định vị sản phẩm là cách tạo ra vị thế của sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng để tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Phillip Kotler, trong cuốn “Kotler on Marketing: how to create, win, and dominate markets, trang 58, đã đưa ra một số các xây dung định vị thương hiệu như sau: định vị bằng cách nêu lên các lợi ích sản phẩm (benefit positioning), định vị theo đặc điểm nhận dạng của thương hiệu (attribute positioning), dinh vị bằng cách nêu lên tính năng đặc biệt của sản phẩm (use/application positioning),.
Tái định vị thương hiệu, là công việc làm mới hình ảnh của thương hiệu, tạo một sức sống mớ cho thương hiệu nhằm đáp ứng được sự thay đổi của thị trường cũng như của người tiêu dung hay một mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp - Ths. Nguyễn Thanh Tân, CEO, Brainmark Vietnam. Như vậy, tái định vị là một chiến lược thay đổi vị trí cảm nhận về thương hiệu trong tâm trí khách hàng mục tiêu. Tại sao phải tái định vị khi thương hiệu đã “định vị” cho mình một hướng đi, đã xác định cho mình chiến lược khác biệt hóa bền vững? Có rất nhiều lý do, một trong những lý do quan trọng nhất là môi trường kinh doanh ngày nay đang thay đổi rất nhanh.
Trong một thế giớ phẳng, một lý thuyết hôm qua đang đúng, hôm sau cần phải điều chỉnh mới theo kịp thực tế. Một thương hiệu có thê năm trước đang trong top dẫn đầu thị trường, năm sau có thể đã biến mắt. Đúng như ông tô marketing đã nhận định: “Không có định vị nào là thích hợp mãi mãï”. Tái định vị thương hiệu, ngoài mục địch tự làm mới và điều chinh chiến lược kinh doanh để theo kịp các thay đổi của thị trường, còn có mục đích mở rộng ngành nghề kinh doanh.
Phát triển thương hiệu, một nguồn thông tỉn quan trọng nhất liên quan đến lý thuyết chung về phát triển thương hiệu là tài liệu PR-Marketing được viết bởi TS. Nguyễn Hoàng Phương, Phó tổng giám đốc Tổ chức giáo dục PTI. Cụ thể hơn, lý thuyết của ông đã có ý nghĩa để mô tả các khái niệm, quy trình phát triển thương hiệu: nghiên cứu thị trường, định vị thương hiệu, lựa chon mô hình thương hiệu; căn cứ để lựa chọn chiến lược phát triển thương hiệu phù hợp doanh nghiệp cần phân tích: chiến lược phát triển doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp, nhu câu thị trường, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đã tham khảo một vài luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh như: Đề tài luận văn thạc sĩ “Phát triển thương hiệu BIC — Tổng công ty Bảo hiểm ngân hàng đầu tư phát triển Uiệt Nam” của tác giả Lê Bá Phúc, người hướng dẫn khoa học TS.
Nguyễn Xuân Lăn - Đại học Đà Nẵng, thực hiện năm 2013. Nội dung của đề tài là hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về thương hiệu và phát triển thương hiệu; đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng triển khai chiến lược phát triển thương hiệu của Tổng công ty Bảo hiểm ngân hang đầu tư phát triển Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2012, từ đó rút ra những mặt thành công và hạn chế cần khắc phục trong những năm tới. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thương hiệu BIC trong thời gian tới. Phương pháp được tác giả sử dụng trong đề tài này là phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phương pháp chuyên gia.
Điểm mới của đề tài là điều tra so sánh được giá trị thương hiệu với các đối thủ cạnh tranh và đưa chiến lược mở rộng dòng vào thực tế chiến lược phát triển công ty. Đề tài luận văn thạc sĩ “Phát triển thương hiệu GAS PETROLIMEX” của tác giả Đoàn Văn Sinh, người hướng dẫn khoa học PGS. Lê Văn Huy - Đại học Đà Nẵng, thực hiện năm 2013. Nội dung của đề tài là hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về thương hiệu và phát triển thương hiệu; đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng triển khai chiến lược phát triển thương hiệu của Công ty TNHH Gas Petrolimex Đà Nẵng, giai đoạn 2010 - 2012, từ đó rút ra những mặt thành công và hạn chế cần khắc phục trong những năm tới.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thương hiệu GAS PETROLIMEX trong thời gian tới. Trong đề tài, tác giả đã sử dụng các trọng số để đánh giá vị thế của thương hiệu và phân đọan thị trường. Tuy nhiên, các vấn đề về phát triển thương hiệu còn khá mới mẽ về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, luận văn không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất nên tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu và các bạn để tác giả hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE THUONG HIEU VA PHAT TRIEN THUONG HIEU 1. TONG QUAN VE THUONG HIEU 1. Khái niệm về thương hiệu Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, một từ để gọi một dấu hiệu, biểu tượng, hình dáng hay là sự kết hợp giữa chúng để nhận biết dấu hiệu hàng hóa dịch vụ của một hay một nhóm nhà cung cấp và phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.” Theo Philip Kotler - “cha đẻ” của marketing hiện dai thé giới: “Thương hiệu có thể được hiểu như là: tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”. Và cũng theo Philip Kotler & Milton Kotler (2013), “Tiếp thị mở đường tăng trưởng”, ta cần thực sự phân biệt ba khái niệm thương hiệu riêng rẽ ở đây: sự chính trực của thương hiệu, nhận diện thương hiệu, và hình ảnh thương hiệu.