CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm Dịch vụ đã có từ lâu và giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Kinh tế càng phát triển, dịch vụ càng giữ vị trí quan trọng. Ngày nay dịch vụ đã mang lại thu nhập cao và chiếm đại bộ phận trong GDP của hầu hết các.
nước có nền kinh tế phát triển. Kinh doanh dịch vụ ngày càng sôi động và phát triển. Chính vì thế xã hội dịch vụ là xã hội sau công nghiệp. Ở nước ta, trong những năm gần đây kinh tế dịch vụ phát triển rất nhanh chóng: tỷ trọng.
dịch vụ trong GDP đã tăng từ 32,48% năm 1985 lên 35% năm 1991 và 41,5% năm 1998, năm 2000 tỷ lệ này chiếm khoảng 39% trong GDP., ước tính nhịp tăng trung bình dịch vụ năm 2006 - 2011 từ 6,5% đến 6,8%. Để hoạt động kinh doanh dịch vụ tốt cả trong và ngoài nước chúng ta cần phải hiểu dịch vụ là gì? Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Zeithaml và Bitner (2000) thì “dich vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” 1. Bản chất của dịch vụ Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng.
của dịch vụ có thể thay đổi trong phạm vi của sản phẩm vật chất. “Từ quan niệm trên chúng ta thấy rằng dịch vụ phải gắn với hoạt động dé tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không như những hàng hóa hiện hữu, chúng không tồn tại dưới dạng hiện vật. Sản phẩm dịch vụ nằm trong trạng.
thái vật chất, người ta có thê nghe được và một số giác quan có thể cảm nhận được: nghe hát thấy hay do đúng nhạc điệu, do chất giọng ca sĩ ngọt ngào đà ấm. Sản phẩm của dịch vụ còn vượt quá giới hạn vật chất lan vào các trang thai tinh thi phi vật chất như trạng thái tình cảm, ý thức. Dịch vụ là một quá trình hoạt động, quá trình đó diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ.
Mỗi khâu, mỗi bước có thể là dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính. Mỗi loại địch vụ mang lại cho. người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ.
Như vậy ở đây chưa bàn tới giá trị của hàng hóa dịch vụ mang tính học thuật như trong kinh tế chính trị, cũng chưa phải là giá trị sử dụng vì giá trị sử dụng có phạm vi rộng lớn hơn. Giá trị ở đây thỏa mãn giá trị mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ. Những giá trị của hệ thống dịch vụ được gọi là chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị mang lại lợi ích tông thể cho người tiêu dùng dich vụ.
Trong chuỗi giá trị, có giá trị của dịch vụ chính do những hoạt động chủ yếu trong dịch vụ tạo ra và mang lợi ích cơ bản cho người tiêu dùng. tự, giá trị của dịch vụ phụ do những hoạt động phụ trợ tạo nên và mang lại lợi ích phụ thêm. Đối với cùng một loại dịch vụ có chuỗi giá trị chung thé hiện mức trung bình mà xã hội có thể đạt được và được thừa nhận. Song bên cạnh.
chuỗi giá trị chung có chuỗi giá trị riêng của từng nhà cung cấp. Đề khống chế về mặt lượng giá trị dịch vụ, các doanh nghiệp thường dùng thời gian và hệ thống quy chế, thủ tục của doanh nghiệp. Dịch vụ cung cấp trong thời gian đài hơn, lượng dịch vụ sẽ lớn hơn. Dịch vụ theo đúng quy chế, quy định.
Nếu mở rộng quy chế hoặc giảm bớt quy chế thì dịch vụ được cung cấp nhiều hơn hoặc ít hơn so với thông thường. Để hiểu sâu hơn dịch vụ, chúng ta cần tìm hiểu thêm những vấn đề có liên quan tới sản xuất cung ứng dịch vụ: © Dich vụ cơ bản: là hoạt động dịch vụ tạo ra giá trị thỏa mãn lợi ích cốt lõi của người tiêu dùng, đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người mua «_ Dịch vụ bao quanh: là những dịch vụ phụ hoặc các khâu độc lập của dịch vụ được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng. Dịch vụ bao quanh có thể nằm trong hệ thống của dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm. © Dich vụ sơ đẳng: bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ bao quanh của doanh nghiệp phải đạt tới một mức độ nào đó và tương ứng người tiêu dùng nhận được một chuỗi giá trị xác định nào đó phù hợp với chỉ phí mà khách hàng đã thanh toán.
Dịch vụ sơ đẳng gắn liền với cấu trúc dịch vụ, với các mức và quy chế dịch vụ của những nhà cung cấp. © Dich vu tong thể: là hệ thống dịch vụ bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ bao quanh, dịch vụ sơ đăng. Dịch vụ tổng thể thường không ôn định nó phụ thuộc vào các dịch vụ thành phần hợp thành. Doanh nghiệp cung ứng khách hàng dịch vụ tổng thể khi tiêu dùng nó.
Dịch vụ tổng thể thay đổi lợi ích cũng thay đổi theo. Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là một * sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thé nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình Dịch vụ không có hình dáng cụ thẻ.
Không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản 10 phẩm vật chất khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ khách hang mới có thê cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Tính không đồng nhất Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông”, đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể.
e, Tính không thể tách rời Tinh không thê tách rời của dịch vụ thẻ hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tao thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng còn đối với dịch vụ khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất d. Tính không thể cất trữ Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc "tái sử dụng” hay “phục h ° lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Bốn đặc tính nêu trên được mô tả ở hình 1 là chung nhất cho các loại dịch vụ. Mức độ biểu lộ các đặc tính đó sẽ khác nhau ở từng loại. Tuy vậy đối với những dịch vụ cụ thể có thể có những đặc điểm khác nữa nên trong quá trình nghiên cứu chúng ta cần lưu ý. Tính vô hình Tính không Tính không lưu thétach rif giữ được Tính không thể đồng nhất Hình 1.1: Sơ đồ mô tả bốn đặc tính của dịch vụ 1.
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm và đặc điểm Chất lượng dịch vụ là một khái niệm đã nhận được nhiều sự quan tim cũng như tranh luận trong giới nghiên cứu. Việc định nghĩa và đo lường dịch vụ là một việc tương đối khó và chưa có sự thống nhất nào về hai vấn đề này. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ.
Một định nghĩa thường sử dụng cho rằng: chất lượng dịch vụ là phạm vi mà một dịch vụ đáp. ứng được nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng (Asubonteng và cộng sự, 12 1996). Chất lượng dịch vụ có thể được định nghĩa là sự khác biệt giữa cảm. nhận và kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ.
Nếu như sự kỳ vọng lớn hơn hiệu quả của dịch vụ thì khách hàng sẽ không thỏa mãn về chất lượng va do đó họ không hài lòng về chất lượng dịch vụ (Lewis, Robert và Bemard, 1983) Các định nghĩa về chất lượng dịch vụ đã cho thấy một sự liên kết chặt chẽ giữa định nghĩa về “chất lượng dịch vụ” và “chất lượng cảm nhận”. Theo Parasuraman và cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ là sự cảm nhận của khách hàng về các giá trị mà dịch vụ đem lại cho khách hàng. Một định nghĩa khác. (Bitner, Booms và Tetreault, 1990) cho rằng: “chất lượng dịch vụ là thái độ biểu hiện sự đánh giá tổng thể”.
Như vậy, chất lượng dịch vụ đứng từ quan điểm của khách hàng là một khái niệm mang tính cảm tính và thường gắn với “sự cảm nhận” và “sự hài lòng của khách hàng”.