Chương I: Cơ sở lý luận và thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại. Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương 4: Các gợi ý về chính sách nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, chi nhánh Đắk Lắk.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VA THUC NGHIEM VE CAC NHAN TO. ANH HUONG DEN CHAT LUQNG DICH VU THE CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm dịch vụ Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ và cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào về địch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đem lại lợi nhuận cho người cung cấp.
Theo Philip Kotler và Armstrong (1991), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thê cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Philip Kotler, việc cung ứng dịch vụ không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu và việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vat chat. Theo Zeithaml & Bitner (2000), dich vu la nhimg hanh vi, qué trinh, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo cach hiểu phô biến, dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm là vô hình, dịch vụ giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do.
khách hàng sở hữu mà không có sự chuyền giao quyền sở hữu. - Đặc tính dịch vụ Lý thuyết về marketing cho rằng dịch vụ có các đặc điểm cơ bản là vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu trữ. Chính điều này làm địch vụ khó định lượng và không thẻ nhận dạng bằng mắt thường. a) Tính vô hình Dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nghe thấy được, không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng.
Vì lý do là vô hình nên sẽ rất khó. khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ. Khách hàng có thể sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ từ các yếu tố như địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông ti b) Tính không đồng nhất Dịch vụ có tính không đồng nhất, còn được gọi là tính khác biệt của ich vụ, đặc biệt đối với những dịch vụ bao hàm sức lao động con người cao thì tính không đồng nhất càng rõ nét. Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, lĩnh vực dịch vụ, người phục vụ, thời gian, đối tượng và địa điểm phục vụ.
Theo Caruana và Pitt, (1997) thì việc đòi hỏi chất lượng dịch vụ đồng nhất từ đội ngũ nhân viên là rất khó đảm bảo. ©) Tinh không thể tách rời Tinh không thẻ tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc không thể phân chia thành giai đoạn sản xuất và giai đoạn tiêu thụ đối với nhiều loại hình dịch vụ. Đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc, điều này dẫn đến các điểm khác biệt sau của dịch vụ: Người sản xuất hay người cung cấp. dịch vụ và người bán thường là một, người cung cấp và người tiêu dùng thường gặp gỡ nhau tại một địa điểm và việc giao nhận dịch vụ thường không tách rời sự hiện diện của người tiêu dùng.
Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, dịch vụ có thể được tiến hành thuận lợi hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng, việc sử dụng máy rút tiền tự động ATM (Automatic Teller Machine) cho phép khach hang thực hiện nhanh chóng các giao dịch ngân hàng mà không cần sự hiện diện của người bán. 4) Tính không lưu giữ được Dịch vụ không thể được sản xuất, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa thông thường. Đặc điểm này dẫn đến khó khăn cho các nhà cung cấp dịch vụ, đó chính là phải tố chức cung ứng dịch vụ như thế nào để đáp ứng với nhu cầu thường xuyên biến động của dịch vụ. Mức cầu dịch vụ ở những giờ cao.
m hay thời gian cao điểm luôn luôn cao, trong khi dịch vụ không thể được lưu kho để được tung ra với số lượng lớn như hàng hóa. Bởi vậy, các hãng vụ cần nỗ lực tìm mọi cách đẻ điều hành sản xuất kinh doanh hợp lý nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm chung nào về dịch vụ ngân hàng.
Trong Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 của WTO đã liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn, một trong đó là dịch vụ tài chính, bao gồm: Các dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể bảo hiểm), các vụ tài chính khác. Như vậy, theo GATS, dịch vụ ngân hàng được hiểu là một trong những dịch vụ tài chính cơ bản trên thế giới và là một phân ngành của dịch vụ nói chung Tại Việt Nam, theo Luật các tô chức tín dụng Việt Nam năm 2010, cum từ “dịch vụ ngân hàng” có được nhắc đến tại khoản 7, điều 38 nhưng không. có định nghĩa cụ thể. Tuy nhiên, tại khoản 12, điều 4 quy định: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” với “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chỉ, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng” (khoản 15, Điều 4, Luật các TCTD 2010).
Như vậy, theo cách hiểu Luật các TCTD, dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ thanh toán qua tài khoản, không bao gồm nhận tiền gửi và cấp tín dụng. Tuy nhiên tại Việt Nam vẫn có không ít quan niệm cho rằng tất cả các hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng. Trong phạm vi của đề tài, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa là một bộ phận của dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ mà các ngân hàng cung ứng nhằm phục vụ khách hàng. - Dịch vụ thẻ ngân hàng 4) Khái niệm dị h vụ thể ngân hàng Dịch vụ thẻ ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng hiện đại, được sử dụng rộng rãi và có tốc độ phát triển nhanh.
Dịch vụ thẻ phát triển gắn liền với sự phát triển của khoa học hiện đại, không có sự phát triển của khoa học đại thì sẽ không có dịch vụ thẻ như ngày nay. Dịch vụ thẻ có thể được. khái niệm như sau: Dịch vụ thẻ là địch vụ mà trong đó ngân hàng sẽ cung cấp một công cụ (thẻ ngân hàng) cho khách hàng, thông qua đó, khách hàng có thể sử dụng các tiện ích, dịch vụ của ngân hàng. Dịch vụ thẻ giúp khách hàng thực hiện giao dịch một cách tiện lợi mà không cần phải giao dịch trực tiếp với nhân viên ngân hàng.
b) Các dịch vụ thẻ ngân hàng Các dịch vụ cung cấp qua thẻ có sự giao thoa với nhau, do đó không có phân loại rõ ràng dịch vụ thẻ mà chỉ có thể xếp dịch vụ thẻ thành các nhóm. lớn với những đặc điểm riêng. Và trong phạm vi luận văn, các dịch vụ thẻ bao gồm: Rút tiền mặt: Khách hàng sở hữu thẻ ngân hàng là có thể đến máy rút tiền tự động ATM để rút tiền mặt mà không cần phải đến giao dịch trực tiếp với nhân viên ngân hàng. Điều này giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc của khách hàng.
Hiện nay, khách hàng có thể đến rút tiền tại bất kỳ máy ATM trong cùng liên minh ngân hàng, ngoài ra, các liên minh Banknetvn, Smartlink và VNBC cũng đã kết hợp với nhau làm cho việc rút tiền của khách hàng trở nên hết sức dễ dàng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào các ngân hàng khác nhau và loại thẻ mà số lần rút tiền mặt tối đa trong ngày, mức tối đa và tối thiểu quy định cho một lần rút là khác nhau. Thanh toán: Ngân hàng liên kết với các nhà cung cắp hàng hóa dịch vụ, do đó chủ thẻ có thể thanh toán các loại hóa đơn tiền điện, nước, phí bảo hiểm, vé máy bay. thông qua ATM.
Chủ thẻ còn có thê thanh toán tại tat ca các địa điểm có máy POS như siêu thị, nhà hàng. mà không cần dùng tiền mặt. Bên cạnh đó, chủ thẻ còn có thể tiến hành các giao dịch chuyển khoản. thông qua hệ thống ATM nhằm mục đích thanh toán và xét theo mục đích thì có thể xếp giao dịch chuyển khoản này vào dịch vụ thanh toán.
Sử dụng dịch vụ thanh toán góp phần làm giảm đáng kể lượng tiền mặt trong lưu thông và an toàn hơn cho khách hàng. 10 Dịch vụ chuyền khoản: Bao gồm chuyển khoản nhằm mục đích thanh toán và chuyển khoản không nhằm mục đích thanh toán. Phần này chỉ trình bày nội dung chuyển khoản không nhằm mục đích thanh toán. Dịch vụ chuyển khoản giúp khách hàng chuyển tiền giữa các tài khoản khác nhau của chủ thẻ, hay chuyên tiền vào tài khoản của cá nhân hoặc tổ chức khác trong, cùng hệ thống một ngân hàng và kiểm soát được hoạt động giao dịch của các tài khoản này.
Trong bối cảnh hiện nay, các ngân hàng tham gia vào các liên minh ngân hàng thì chủ thẻ có thể thực hiện việc chuyền khoản giữa các tài khoản thẻ của các ngân hàng khác nhau. Việc chuyên khoản có thể được thực hiện trực tiếp trên máy ATM của các ngân hàng. Với dịch vụ mới này, ngân hàng gia tăng các tiện ích đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ thẻ bên cạnh dịch vụ rút tiền truyền thống.