Chương 1 sẽ trình bay về bối cảnh nghiên cứu, lý do vì sao thực hiện đề tai, mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài, phạm vi và giới hạn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cuối cùng là ý nghĩa thực tiễn của để tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương2 sẽ trình bày các van dé về co sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực thương hiệu, giá trị thương hiệu, các mô hình giá trị thương hiệu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 sẽ đưa ra phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong dé tài dé điều chỉnh và đánh giá thang đo lường các khái niệm nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết đã đặt ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 này sẽ trình bày thông tin về mẫu khảo sát và kiểm định các thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương 5 sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra những kết luận về thành phân giá trị thương hiệu thông qua kết quả phân tích. Đề xuất một số hàm ý chính sách quản tri nhăm nâng cao gia trị thương hiệu của các ngân hàng trên địa bàn Thành phố Đà lạt. CO SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Gidi thiệu Chương 2 sẽ trình bày các vẫn dé về bối cảnh ngân hàng tại Thanh phố Đà Lạt, cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực thương hiệu, giá trị thương hiệu, các mô hình giá trị thương hiệu, bao gồm những phần chính sau: định nghĩa thương hiệu, khái niệm về giá trị thương hiệu, các mô hình giá trị thương hiệu từ đó xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Bối cảnh các ngân hàng tại Thành phố Đà Lạt Hiện nay trên địa bàn Thành phố Đà Lat là 26 to chức tín dụng bao gồm ca ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hang thương mại c6 phần, ngân hàng nhà nước (Theo số liệu ngân hàng nhà nước công bố 30/09/2016). Những ngân hàng tại thành phố Đà Lạt được thành lập và phát triển từ rất sớm như Agribank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Sacombank. nhưng vẫn chưa tao được thương hiệu riêng cho mình, chưa dé lại dau ấn trong tâm trí khách hang, nguyên nhân là do các ngân hàng tại thành phố Đà Lạt chưa nhận thức được một cách rõ rệt về tam quan trọng của thương hiệu ngân hang; mạng lưới các chỉ nhánh của các ngân hàng còn khá it; san phẩm còn it và giống nhau, chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa các ngân hàng. Các ngân hàng Đà Lạt chưa có các chiến lược marketing nhằm nâng cao xu hướng sử dụng dịch vụ, lòng ham muốn và lòng trung thành thương hiệu ngân hàng.
Mặc dù các nhà lãnh đạo ngân hàng tại Đà Lạt đã đưa ra tương đối nhiều chính sách lôi kéo khách hàng như các chính sách về quảng cáo, khuyến mãi.để khách hàng nhận ra thương hiệu, nhớ đến nó và cảm nhận chất lượng của các sản phẩm dịch vụ nhưng vẫn chưa có các kế hoạch lâu dài và cụ thể phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Các ngân hàng tại Đà Lạt cạnh tranh với nhau khá khốc liệt với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng như tiết kiệm, cho vay, dịch vụ thẻ, chuyền tiền, kiều hồi, kinh doanh ngoại tệ, ngân hàng điện tử, bảo hiểm nhân thọ và các dich vụ khác; liên tục đưa ra lãi suất huy động với mức cao, không ngừng tan công đến các thị trường ngách (vùng nông thôn) nham thu hút, đưa hình ảnh của mình tới gần hon các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ lẻ và hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Đà Lạt. Tuy nhiên thị trường luôn chuyển biến và yêu câu từ khách hang ngày cảng cao vi vậy dé tăng tính cạnh tranh thì các ngân hang tại Thành phố Da Lạt phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong việc cải tiến sản phẩm, dịch vu, hình ảnh nhằm giữ vững và phát huy thương hiệu của mình trong tâm trí khách hàng. Dinh nghĩa thương hiệu Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) (1960): “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, kiểu dáng hay là sự phối hợp các yếu tố trên, nhằm mục đích nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất, và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh”.
Còn theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hang hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tô chức”. Theo Kotler (1991): “Thuong hiệu là tổng hợp tat cả các yếu tố vật chất, thâm mỹ, lý tính và cảm tính của một sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên goi, biéu tuong, hinh anh va moi su thé hiện của san pham đó, dần được tạo dựng qua thời gian và chiếm một vi trí rõ ràng trong tâm trí khách hang”. Quan điểm tong hợp về thương hiệu cho rang thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tưởng mà nó phức tạp hơn nhiều (Davis, 2002). Nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị ma ho đòi hỏi (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011).
Các khái niệm về thương hiệu cho thấy sự phong phú và phức tạp của khái niệm này. Nội dung thương hiệu tự bản thân nó trong nên kinh tế thị trường đã mang ý nghĩa hết sức đa dang vi bản thân giá tri của nó tạo ra, tuy tính toán được nhưng không thé định lượng cụ thé. Trên co sở những khái niệm về thương hiệu trên, có thé thay rằng thương hiệu là một tập hợp các danh tính, hình dạng, biểu tượng hay bat kỳ các dau hiệu (vô hình hoặc hữu hình) trong tâm trí khách hàng, giúp khách hàng có thể phân biệt, xác nhận nguồn gốc của sản phẩm (dịch vụ) do doanh nghiệp này sản xuất (cung ứng) với các sản phẩm (dịch vụ) của doanh nghiệp khác. Giá trị thương hiệu Lassar và Munsterberg (1995) chia ra hai cách dé đánh giá giá trị thương hiệu: đánh giá theo quan điểm của nhà đầu tư hay tài chính và đánh giá theo quan điểm người tiêu dùng.
Theo quan điểm tài chính thì “ø1á trị thương hiệu được xem là một khoản gia trị gia tăng có nguồn gốc từ các hoạt động Marketing đối với thương hiệu, góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc có thể đo lường được về mặt tài chính khi so sánh với một sản phẩm, dịch vụ tương đương khác nhưng chưa có thương hiệu” (Trịnh Quốc Trung, 2013). Giá trị thương hiệu cũng có thể là sự hài lòng của khách hàng đã đảm bảo họ sẽ tiếp tục sử dụng và phố biến kinh nghiệm của mình về sự hài lòng cho các khách hàng khác góp phân gia tăng qui mô khách hàng cho nhà cung cấp. Đánh giá thương hiệu theo quan điểm tài chính đóng góp cho việc đánh giá tài sản của một công ty, tuy nhiên, nó không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị của thương hiệu (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011). Vi vậy, nghiên cứu này tập trung vào quan điểm thứ hai: đánh giá giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng.
Aaker (1991) định nghĩa giá trị thương hiệu là “. một tập hợp các tài sản có liên quan đến thương hiệu, tên và biểu tượng của thương hiệu, góp phần làm tăng thêm hoặc giảm đi giá trị của sản phẩm hay dich vụ đối với doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp”. Keller (1993, 1998) cho rằng giá tri của thương hiệu chính là kiến thức của khách hàng về thương hiệu đó. Dưới góc độ của người tiêu dùng, những thành phan của giá trị thương hiệu đều rất có giá trị.
Những thành phần này là tiêu chuẩn của một công ty/doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và dé định vị thương hiệu (Keller, 1998). Giá trị thương hiệu giúp cho công ty ghi dau ấn trong tâm trí của người tiêu dùng. Lợi thé cạnh tranh có thể có được từ các thành phân của giá trị thương hiệu, bao gồm: Lợi ích có lợi cho các hoạt động hiện tại cua công ty va lợi ích trong tương lai. Những lợi ích này bao gồm việc tăng doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận biên.
Nó còn làm giảm phản ứng của khách hàng đối với việc tăng giá sản phẩm và định hướng hoạt động truyền thông và thương mại. Lợi ích lâu dai trong hoạt động kinh doanh: lợi thé có được từ lòng trung thành thương hiệu là giảm kha năng bị tan công bởi các chiến lược kinh doanh của đối thủ, và cũng đồng thời làm giảm việc bị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh khi có khủng hoảng xảy ra. Lợi ích cho việc phát triển của công ty trong tương lai. Mối quan hệ giữa giá trị thương hiệu và hành vi tiêu dùng mang lại cơ hội cho những sáng tạo mới, tạo ra lợi ích cho việc truyền thông và giới thiệu sản phẩm mới như là việc mở rộng thương hiệu (Boonghee Yoo, Naveen Donthu và Sungho Lee, 2000).
Một số nghiên cứu về giá trị thương hiệu Sau đây là một số nghiên cứu về giá trị thương hiệu, các thành phần của nó. Quan điểm của Aaker Trên thế giới hiện nay, đã có khá nhiều mô hình nghiên cứu giá trị thương hiệu, trong đó, mô hình nghiên cứu của Aaker năm 1991 được su dụng pho bién nhat. Theo Aaker (1991, 1996) giá trị thương hiệu được cấu thành bởi 5 thành phan: (1) lòng trung thành thương hiệu, (2) nhận biết thương hiệu, (3) chất lượng cảm nhận, (4) liên tưởng thương hiệu và (Š) các tài sản thương hiệu khác. 10 Nhận biết thương hiệu Chất lượng cảm nhận Lòng trung thành thương hiệu | ¢— GIÁ TRỊ THƯƠNG HIEU Liên tưởng thương hiệu Các tài sản thương hiệu khác Hình 2.1 Mô hình thành phân giá trị thương hiệu theo Aaker (1991, 1996) “Nguôn: Aaker (1991, 1996)” Sự nhận biết thương hiệu là khả năng khách hàng có thé nhận biết hoặc nhớ tới thương hiệu.
Người ta thường nghĩ rang một thương hiệu được nhiều người biết đến thì đáng tin cậy hơn và chất lượng tốt hơn. Và do đó, khách hàng có xu hướng lựa chọn sản phẩm có thương hiệu biết đến thay vi lựa chọn sản phẩm mà họ chưa bao giờ nghe đến. Nhận biết thương hiệu là một thành phần quan trọng của giá trị thương hiệu (Keller, 1993).