Chương I: Giới thiệu tổng quát Chương này sẽ giới thiệu tổng quan lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, phạm vi nghiên cứu của đề tài. 3 Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương này sẽ giới thiệu các khái niệm liên quan đến đề tài, mô hình lý thuyết và thang đo sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề, khung nghiên cứu. Cụ thể là các khái niệm liên quan đến chất lượng dịch vụ, mô hình chất lượng dịch vụ 05 sai lệch, mô hình SERVQUAL, mô hình SERVPERF, thang đo chất lượng dịch vụ Call center, thang đo chất lượng đại lý bán vé máy bay, và cuối cùng là khung nghiên cứu của đề tài. Chương III: Thực trạng Chương này sẽ giới thiệu sơ lược mô hình tổ chức công ty/Tổng đài 1080, các dịch vụ đang kinh doanh, tầm nhìn, thực trạng của dịch vụ bán vé máy bay qua tổng đài 1080.
Chương IV: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu định tính/sơ bộ, kết quả nghiên cứu định tính/sơ bộ, thiết kế nghiên cứu chính thức. Kết quả của nghiên cứu định tính/sơ bộ là thang đo chính thức được sử dụng trong nghiên cứu chính thức để thu thập số liệu đánh giá từ khách hàng. Chương V: Kết quả nghiên cứu chính thức Chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu chính thức: các yếu tố ảnh hưởng chất lượng dịch vụ bán vé máy bay 1080 theo cảm nhận từ khách hàng, liệt kê các yếu tố chưa đạt yêu cầu. Từ đó tìm các nguyên nhân nội bộ đã làm giảm chất lượng dịch vụ, kiến nghị giải pháp cải tiến.
Chương VI: Kết luận và kiến nghị Chương này sẽ tóm lược lại các nội dung các công việc đã thực hiện từ chương 2 đến chương 5, nêu những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.1 Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là đo lường và so sánh mức độ cảm nhận của khách hàng về dịch vụ với kỳ vọng của khách hàng (Lewis & ctg,1983). Lehtine & ctg, 1982, cho rằng chất lượng dịch vụ được tạo ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng và các thành phần của tổ chức cung cấp dịch vụ, bao gồm 03 mặt: chất lượng vật lý bao gồm các mặt vật lý của dịch vụ (như thiết bị, hạ tầng, trụ sở,…), chất lượng doanh nghiệp liên quan đến hình ảnh hoặc danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng tương tác có được từ sự tương tác giữa nhân viên và khách hàng hoặc giữa các khách hàng với nhau.2 Mô hình chất lượng 5 sai lệch Thông qua các cuộc phỏng vấn, Parasurama & ctg, 1985, đã có cái nhìn sâu sắc (từ việc phân tích các hồi đáp từ các cá nhân tham gia phỏng vấn), đó là: tồn tại những sự sai lệch chính liên quan đến nhận thức chất lượng dịch vụ và các hoạt động liên quan đến cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các sai lệch này là trở ngại chính khi cố gắng cung cấp dịch vụ để được khách hàng cảm nhận có chất lượng cao. Các sai lệch chủ yếu được liệt kê dưới đây: 9 Sai lệch giữa kỳ vọng khách hàng – nhận thức người quản lý (Gap 1): là sai lệch giữa kỳ vọng của khách hàng và cái mà người quản lý nghĩ đó là kỳ vọng của khách hàng.
Ví dụ: người quản lý khách sạn nghĩ rằng khách hàng mong muốn thức ăn ngon hơn, các tiện ích của nhà hàng trong khách sạn tốt hơn, nhưng thật sự thì khách hàng quan tâm nhiều đến tốc độ đáp ứng của nhân viên, sự sạch sẽ của phòng trong khách sạn. 9 Sai lệch giữa nhận thức của người quản lý – tiêu chuẩn kỹ thuật của dịch vụ (Gap 2): là sai lệch giữa nhận thức đúng đắn của người quản lý về mong muốn của khách hàng và các tiêu chuẩn kỹ thuật của dịch vụ. Ví dụ: người quản lý bệnh viện yêu cầu y tá phải đáp ứng “nhanh” với một yêu cầu nhưng không nêu rõ “ như thế nào là nhanh”. 5 9 Sai lệch giữa tiêu chuẩn kỹ thuật dịch vụ - dịch vụ cung cấp thực sự (Gap 3): là sai lệch giữa tiêu chuẩn của dịch vụ và dịch vụ cung cấp thực tế.
Sai lệch này xuất hiện trong những tình huống có liên quan đến nhân viên dịch vụ chưa được đào tạo, hoặc không có năng lực hoặc chưa sẵn sàng đáp ứng các tiêu chuẩn. 9 Sai lệch giữa dịch vụ cung cấp thực sự – truyền thông với bên ngoài (Gap 4): là sai lệch giữa dịch vụ cung cấp thực tế với quảng cáo về dịch vụ trên các phương tiện truyền. Quảng cáo, truyền thông ảnh hưởng đến kỳ vọng của khách hàng. 9 Sai lệch giữa kỳ vọng – trải nghiệm thực sự của khách hàng (Gap 5).
Trên cơ sở các sai lệch, Parasuraman & ctg, 1985, đã đề xuất mô hình chất lượng dịch vụ ( Hình 2.1), trong đó chỉ ra chất lượng dịch vụ được cảm nhận bởi người tiêu dùng phụ thuộc vào độ lớn (size) và phương hướng (direction) của sai lệch giữa kỳ vọng và cảm nhận thực tế của khách hàng (Gap 5), trong khi đó sai lệch này lại phụ thuộc vào các sai lệch khác có liên quan đến thiết kế, tiếp thị, đào tạo, cung cấp dịch vụ hay nói cách khác sai lệch này là một hàm số phụ thuộc vào các sai lệch 1 – 4: Gap 5 = f(Gap 1, Gap 2, Gap 3, Gap 4) Theo đó, phản hồi về sai lệch 5 từ người tiêu dùng (khen, phàn nàn, chê) là cơ sở chuẩn đoán các sai lệch khác. Các phản hồi này là các thông tin cần thiết để cải tiến chất lượng. Chủ động tìm kiếm các thông tin phản hồi là cực kỳ cần thiết để cải tiến.1 Mô hình chất lượng dịch vụ theo 5 sai lệch (Nguồn: Parasurama & ctg, 1985).3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg, 1985, cho rằng người tiêu dùng về cơ bản sử dụng các tiêu chí tương tự nhau để đánh giá chất lượng dịch vụ. Các tiêu chí này được phân thành 10 nhóm chính và được gọi là “các tiêu chí quyết định chất lượng dịch vụ”, được mô tả trong bảng 2.1 Các tiêu chí quyết định chất lượng dịch vụ TT Tiêu chí ( Dimension) 1 Tin cậy (Reliability) 2 Đáp ứng (Responsiveness) 7 3 Năng lực (Competence) 4 Tiếp cận (Access) 5 Courtesy (Phong cách phục vụ) 6 Truyền thông (Communication) 7 Tạo lòng tin (Credibility) 8 An toàn (Security) 9 Hiểu khách hàng (Understanding) 10 Hữu hình (Tangibles) (Nguồn: Parasuraman & ctg, 1985).
Parasuraman & ctg, 1988, đã khái quát và thu gọn 10 tiêu chí ban đầu chỉ còn lại 5 tiêu chí: Tin cậy, Đáp ứng, Bảo đảm, Cảm thông, Hữu hình với 22 thuộc tính/biến quan sát. Các biến quan sát cụ thể là: 1. Tiêu chí Tin cậy (Reliability) có các biến quan sát: 9 Công ty cung ứng dịch vụ như đã hứa. 9 Công ty quan tâm giải quyết các vấn đề của khách hàng.
9 Công ty thực hiện tốt dịch vụ ngay lần đầu tiên. 9 Công ty cung ứng dịch vụ vào đúng thời gian đã hứa. 9 Công ty duy trì mức độ không sai sót. Tiêu chí Đáp ứng (Responsiveness) có các biến quan sát: 9 Công ty luôn thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ được thực hiện 9 Nhân viên đáp ứng nhu cầu khách hàng nhanh chóng.
9 Nhân viên sẵn lòng hỗ trợ khách hàng. 9 Nhân viên không quá bận rộn để đáp ứng nhu cầu khách hàng 3. Tiêu chí Bảo đảm (Assurance) có các biến quan sát: 9 Khách hàng tin tưởng vào nhân viên của công ty. 9 Khách hàng cảm thấy an tâm khi sử dụng dịch vụ của công ty.
9 Nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn. 9 Nhân viên có đủ năng lực thực hiện tốt công việc của mình. Tiêu chí Cảm thông (Empathy) có các biến quan sát: 8 9 Nhân viên thể hiện sự quan tâm cá nhân đến khách hàng. 9 Nhân viên chăm sóc khách hàng chu đáo.
9 Đặt lợi ích khách hàng lên hàng đầu 9 Nhân viên thông hiểu nhu cầu khách hàng 9 Thời gian làm việc thuận tiện cho khách hàng. Tiêu chí Hữu hình (Tangibles) có các biến quan sát: 9 Công ty có trang thiết bị hiện đại. 9 Công ty có cơ sở vật chất bắt mắt. 9 Trang phục nhân viên gọn gàng, tươm tất.
9 Tiện nghi vật chất bên ngoài phù hợp với dịch vụ công ty cung cấp.4 Mô hình SERVQUAL Hình 2.2 mô tả cách thức đo lường chất lượng dịch vụ theo mô hình SERVQUAL.2 Mô hình SERVQUAL (Nguồn: Parasuraman & ctg, 1988). Trong thực tế, việc đo lường chất lượng dịch vụ theo mô hình SERVQUAL gồm 3 phân đoạn: + 2 phân đoạn đầu lần lượt đo lường mức độ khách hàng kỳ vọng (expected) và đo lường mức độ khách hàng cảm nhận (perceived) về 22 biến quan sát của dịch vụ. Các biến quan sát dùng thang đo Likert 5 mức biểu thị một mức độ đồng ý hay không đồng ý của khách hàng với các phát biểu về biến quan sát. Sai biệt (Cảm nhận – Kỳ vọng) của đo lường biểu thị chất lượng dịch vụ.
9 + Phân đoạn thứ 3 yêu cầu khách hàng đánh giá mức độ quan trọng của 5 tiêu chí trên. Sau khi nghiên cứu kiểm định cũng như ứng dụng, SERVQUAL được thừa nhận như một thang đo có giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn. Tuy nhiên, điều có thể thấy là thủ tục đo lường SERVQUAL khá dài dòng. Do đó đã xuất hiện một biến thể của SERVQUAL là SERVPERF 2.5 Mô hình SERVPERF Mô hình đo lường SERVPERF được Cronin & ctg, 1992, giới thiệu vào năm 1992.
Mô hình SERVPERF (Hình 2.3) đo lường chất lượng dịch vụ chỉ bằng cách đo lường mức độ cảm nhận của khách hàng (thay vì phải đo cả mức độ cảm nhận và mức độ kỳ vọng như trong SERVQUAL). Hai ông cho rằng chất lượng dịch vụ được phản ánh tốt nhất bởi mức độ cảm nhận mà không cần đo lường mức độ kỳ vọng cũng như đánh giá trọng số của 5 tiêu chí. Mô hình SERVPERF cũng sử dụng 5 tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ giống như mô hình SERVQUAL. Mô hình SERVPERF còn được gọi là mô hình cảm nhận (perception model).3 Mô hình SERVPERF (Nguồn: Cronin & ctg, 1992).