chương I Chương này giới thiệu lý do hình thành dé tài, mục tiêu dé tài, phạm vi thực hiện dé tài và ý nghĩa của đề tài. Trong chương này cũng đã giới thiệu sơ lược phương pháp thực hiện dé tài. Chương II sẽ giới thiệu về Công ty Cô phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sai Gòn và Chi nhánh của công ty tại Phú Mỹ Hưng — Trung tâm Điện thoại Nam Sài Gòn từ đó nêu ra những van dé còn tồn đọng tại Chi nhánh. CHƯƠNG II: TONG QUAN VE CÔNG TY SPT VÀ HOAT DONG CUA CHI NHANH PHU MY HUNG 2.1 Tổng quan về công ty SPT 2.1 Thời gian/quá trình hoạt động Công ty C6 phan Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gon (SPT) thành lập theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 7093/DMDN ngày 8/12/1995 với số vốn điều lệ 50 ty đồng.
Công ty chính thức được UBND TP.Hồ Chí Minh cấp giấy phép thành lập số 2914/GP. Công ty SPT gồm 6 thành viên sáng lập và là công ty cỗ phan dau tiên hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Vượt qua nhiều khó khăn, thử thách với quyết tâm cao, năm 1997 SPT chính thức cung cấp dịch vụ Internet (ISP) với thương hiệu SaigonNet, trở thành một trong bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam. Từ năm 1999, SPT thành lập Công ty TNHH Phát triển Phần mềm Sài Gòn (SDC) để sản xuất, gia công phần mém và cung cap các giải pháp công nghệ thông tin.
Năm 2002, Công ty bắt đầu triển khai các dự án đầu tư cung cấp dịch vụ viễn thông tại khu đô thị mới Nam Sài Gòn, đặc biệt dịch vu VoIP đường dài trong nước va quốc tẾ với thương hiệu 177 đã nhanh chóng chiếm được thị trường và tạo được nguồn vốn đáng kể. SPT tiếp tục đưa mạng điện thoại cố định đầu số 4 vào khai thác tại TP.Hồ Chí Minh. Đây là mạng điện thoại có định thứ 2 của Việt Nam vào thời điểm đó. Nam 2003, SPT chính thức khai thác mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ CDMA lần đầu tiên ở VN với thương hiệu S-Fone, là bước đột phá trong lãnh vực điện thoại di động của thị trường viễn thông Việt Nam và được bình chọn là một trong bốn sự kiện đặc biệt nồi bật trong năm 2003.
Đầu năm 2007, SPT hợp tác với tập đoàn Ericsson cung cấp giải pháp và thiết bị nâng cấp mạng lưới NGN và thiết lập mạng truyền dẫn Viba để mở rộng vả nâng cấp hạ tang mạng trục viễn thông quốc gia với tong giá trị hợp đồng 14 triệu USD; SPT ký kết hợp đồng xây dựng va bảo dưỡng hệ thống cáp quang biển băng thông rộng tốc độ cao. Đây là hệ thống cáp quang biển xuyên Thái Bình Dương đầu tiên có dung lượng lên đến 1.92 Tbps, chi phí dự án lên đến 560 triệu USD. Từ năm 2009 đến nay, SPT đã và sẽ tiếp tục đầu tư một hạ tang viễn thông đồng bộ để cung cấp các dịch vụ viễn thông băng rộng và dịch vụ mới như IPTV, IPTalk.thay đổi trong hình thức hợp tác của dự án di động S-Fone, SPT kết hợp các nguồn lực nội bộ, thiết kế các gói dịch vụ để cung cấp tốt nhất cho khách hàng. Đầu tư tăng cường hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh.2 Các thành qua đạt được Với sự góp mặt của SPT, thị trường bưu chính - viễn thông Việt Nam đã trở nên đa dạng và phong phú hơn, tạo ra bước đột phá trong chủ trương xóa bỏ cơ chế độc quyên công ty, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đăng, góp phần thúc đây Ngành và nền kinh tế cả nước nói chung.
Hiện SPT đã được cấp gan như day đủ các giấy phép chủ chốt của Ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Thành công bước đầu của SPT càng được khích lệ thêm bởi sự ghi nhận từ lãnh dao cấp trên. Từ năm 2001 đến năm 2004, Công ty được Chính phủ va Thành phố tặng nhiều Băng khen, cờ Don vị xuất sắc và đặc biệt năm 2005 được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng 3.Năm 2006, SPT đoạt giải “Thuong Hiệu mạnh 2006” do Thời báo Kinh tế Việt Nam phối hợp Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mai) bầu chọn. Với tông doanh thu bình quân khoảng 1000 tỉ /năm, SPT đã va đang đóng góp khá tốt cho ngân sách thành phố.
SPT đang từng bước mở rộng mạng lưới cung cấp các loại hình dịch vụ tại 64 tỉnh thành trong cả nước kế cả chuẩn bị đầu tư ra nước ngoài. Hiện SPT đang cung cấp nhiều loại hình dịch vụ cho hàng trăm ngàn thuê bao; thị phần ngày càng mở rộng; thương hiệu SPT được thị trường nhận diện; vốn Điều lệ Công ty tăng nhiều lần so với 50 tỷ ban đầu. SPT đã xây dựng được đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật lành nghề, thu nhập bình quân được nâng lên đồng thời đảm bảo thực hiện các ché độ chính sách.3 Các đối thủ cạnh tranh Thị trường viễn thông Việt Nam nói chung, thị trường viễn thông TP.HCM nói riêng đang cạnh tranh ngày một gay gắt. Các nha cung cấp dịch vụ viễn thông phải đối điện với thực trạng thị trường bị chia xẻ bởi nhiều nhà cung cấp lớn như VNPT chiếm khoảng 70%, FPT chiếm khoảng 13%, Viettel chiếm khoảng 11%.
còn lại là thị phần dành cho những nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác như SPT, SCTV, CMC.Trong đó thi phần của SPT chỉ chiếm khoảng 1% (“Sách trang CNTT-TT Việt nam”, 2011). Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông áp dụng hệ thống tổng đài tập trung được để chăm sóc được nhiều khách hàng cùng một thời điểm, cộng theo đó là cuộc chạy đua của doanh nghiệp về các chiêu “nâng niu thượng dé” đã góp phan thúc đây cạnh tranh và phát triển của lĩnh vực chăm sóc khách hàng trong viễn thông. Công tác chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực viễn thông ngày càng trở nên quan trọng, nhưng cũng chính ngành này lại đang phải đối mặt với sự phản ứng dữ dội của người dùng vì coi trọng mục tiêu phát triển bề rộng hơn là khách hàng hiện hữu. Trong vai năm trở lại đây, số lượng khách hàng thuê bao mới hoặc thay đối các nha cung cấp dịch vụ ngày càng tăng trong khi các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông lại không tăng nhiều so với nhu cầu sử dụng của khách hang, điều này dẫn tới tình trạng quá tải của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cũng như chất lượng sử dụng dân đên việc chăm sóc khách hàng đêu giảm di dang kê.
Đề đánh giá ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hàng dau nay trong thị trường viễn thông TP HCM, việc phân tích sơ bộ một số điểm mạnh điểm yếu của Viettel, FPT, VNPT [a cần thiết. Đối thủ Viettel : ‹ Điểm mạnh: Hai Trung tâm Chăm sóc Khách hàng mới của Viettel được tổ chức và vận hành với gần 5.500 nhân viên trực tong đài, có khả nang tiếp nhận 30.000 cuộc goi/gid vào hệ thống trả lời và 15.600 cuộc đồng thời vào hệ thống trả lời tự động (IVR). Hiện tai, khả năng đáp ứng các cuộc gọi của khách hàng của Viettel đã cao hơn 12% — 13% so với chỉ tiêu quy định của ngành (Tập đoàn Viettel, 2011) Công tác chăm sóc khách hàng của Viettel đánh giá cao qua kết quả đo kiểm của Bộ thông tin và truyền thông. Tý lệ khách hàng khiếu nại của Viettel được đánh giá là thấp nhất với 0.0002 số lần khiếu nai/ 100 khách hang tính trong thời gian 3 tháng.
Nói cách khác, trong 3 tháng, cứ 1 triệu khách hàng sử dụng mạng di động Viettel thì chỉ có 2 khách hàng khiếu nại vé chất lượng dịch vụ (Tập đoàn Viettel, 2011). ‹ Điểm yếu: Hệ thống chăm sóc khách hang Viettel chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng thuê bao, dẫn tới năng lực phục vụ bị quá tải. Đối thủ FPT: ¢ Điểm mạnh: Đầu tư quảng cáo ram rộ, chăm chút hình anh kĩ lưỡng, đội ngũ bán hàng hùng hậu, kí hợp đồng cực nhanh, ngoài ra FPT luôn có những bước đi tiên phong trong việc mở rộng dịch vụ so với 2 nhà mạng còn lại. se Diém yêu: FPT quá chú trọng vào việc mở rộng dịch vụ đê thâu tóm khách hàng mà quên mất việc đâu tư nâng câp cải tạo hạ tâng, nâng cao chât lượng “hậu mãi”.
Cụ thé: do số lượng khách hàng tăng quá nhanh, cơ sở hạ tầng không đáp ứng được nên sự cố xảy ra liên tiếp, SỐ lượng kĩ thuật ít không thé khắc phục kip tiến độ, bởi vậy khách hàng đăng kí mới nhiều ma rời mạng cũng nhiều không kém. Đổi thủ VNPT e Diém mạnh: là đơn vị có truyên thông lâu đời, cơ sở vat chat vững vàng, chat lượng đường truyền tương đối ồn định. ¢ Điểm yếu: là một doanh nghiệp nhà nước đơn thuần, VNPT không thé tránh khỏi những điểm yếu cô hữu như thủ tục rườm ra, rắc rối, thái độ nhân viên tiếp khách hàng rất kém chuyên nghiệp, ít khuyến mãi và giá cước luôn nằm trong “top” đắt nhất.4 Khách hàng Khách hang của SPT hiện nay gồm tất cả các cơ quan ban ngành như: cơ quan thường trực, điều hành của Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ quan ngoại giao. Ngoài ra khách hàng gồm các tô chức, doanh nghiệp có qui mô lớn, nhỏ phạm vi hoạt động rộng tại nhiều tỉnh, thành phố có nhu cầu sử dụng nhiều dịch vụ Viễn théng-Tin học và các khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dung các dịch vụ Viễn thông-Tin học đáp ứng nhu câu liên lạc của bản thân cá nhân, gia đình người sử dụng.2 Hoạt động của chỉ nhánh SPT tại Phú Mỹ Hưng 2.1 Thời gian/quá trình hoạt động Chi nhánh SPT tai Phú Mỹ hưng có tên gọi Trung tâm Điện thoại Nam Sài Gòn (SST) được thành lập theo thỏa thuận hợp tác giữa Cty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) và Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng theo quyết định số 76/QD-HDQT ngày 11/11/2002, trụ sở 009 khu phố Mỹ Hưng, Dai lộ Nguyễn Văn Linh, phường Tân Phong, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai bên hợp tác khai thác viễn thông toàn bộ khu vực Phú Mỹ Hung, trong đó công ty Phú Mỹ 10 Hưng là chủ đầu tư đóng góp toàn bộ cơ sở ha tang mạng lưới cũng như đài tram, SPT chịu trách nhiệm vận hành quản ly và khai thác kỹ thuật. SST bắt đầu hoạt động từ năm 2002, ban dau chỉ có khoảng 500 khách hàng với một dịch vụ điện thoại có định duy nhất.