Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo tại Công ty cô phần công nghiệp gốm sứ Taicera Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần công nghiệp gốm sir Taicera. 14 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE DAO TAO NGUO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. TÔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực (NNL) 1.
Khái niệm nguồn nhân lực Trong bộ sách *C.Ăng-ghen toàn tập” của C.Ăng-ghen, cụ thể là bộ sách “Tư bản và lao động” thuật ngữ “sức lao động”, “lao động” và “lực lượng lao động” thường dùng để chỉ lao động của con người. Từ cuối những năm T0 của thế kỷ XX, vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với sự chuyên đổi từ quá trình sản xuất công nghiệp theo lối cỗ truyền sang quá trình sản xuất theo các công nghệ kỹ thuật hiện đại, những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng nâng cao của nhân viên tạo ra cách tiếp cận mới về con người trong các tổ chức và doanh nghiệp.Vấn đề con người trong các tổ chức, doanh nghiệp được dé ập đến như là vấn đẻ nhân sự. Với cách đề cập trên, nhân sự được hiểu là những con người cụ thể đảm nhận một chức vụ hay một vị trí công tác nào đó trong cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Cùng với khái niệm đó, nguồn lực con người trong tô chức được xem là nguồn nhân sự.
Nguồn nhân sự ra đời và được hiểu là toàn bộ khả năng về sức lực và trí tuệ của mỗi con người. Hiện nay, trên thế giới thuật ngữ “nguồn nhân lực” trở thành thuật ngữ chung và phổ biến. Theo đó, nguồn lực con người được xem xét với nghĩa bao quát, rộng hơn va khong cl lơn thuần về mặt số lượng mà ngày càng quan tâm đến mặt chất lượng, gắn liền với quá trình phát triển của con người. Nhân lực được hiểu là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất.
Nói một cách tổng quát nhân lực là nguồn lực của con người, gồm thể lực và trí lực. 15 Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm sau: Theo Begg Fischer va Dornbusch: “NNL diegc hiéu Id toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được. NNL là các tiềm năng của con người được lượng hóa theo một chỉ tiêu nhất định do luật định hoặc chỉ tiêu thống kê căn cứ vào độ tuổi và khả năng lao động " [L7].
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: “ME là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sông con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng dé phát triển KT-XH trong một cộng đông ”. Một số ý kiến của các nhà kinh tế hoc cho ring: “NNL la tổng hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tông thể các yếu tố vẻ thể chất va tinh thân được huy động vào quá trình lao động" [1]. Quan điểm của các doanh nghiệp cho rằng: “NNL írong doanh nghiệp là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [14]. ‘Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì: “NNL cân phải hiểu là tổng thê các tiềm năng lao động của một tổ chức hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào.
NLL theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuôi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi) [12] Từ những khái niệm trên chúng ta hiểu: AE. là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hiết và cơ bản nhất là tiêm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng một cơ cấu KT-XH doi hỏi. Toàn bộ tiềm năng của con người hình thành nên năng lực sản xuất xã hội của con người (năng lực xã hội của nguồn nhân lực). Năng lực này có được phải qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe,.và nó không ngừng được tăng cường năng cao trong quá trình sống và lao động.
Tuy nhiên, nếu dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng là chưa đủ. Vấn đề quan trọng là phải biết khai thác, huy động. 16 tiềm năng đó vào quá trình phát triển của tô chức dưới dạng vốn nhân lực. Có thể nói, NNL được coi như là một nguồn lực chính ở chỗ biến nó dưới dạng tiềm năng thành vốn nhân lực.
Khi nguồn vốn nhân lực được phát huy sẽ mang lại những lợi ích trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện tại. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp thì quản trị nhân lực bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được. mục tiêu của tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực là vấn để sống còn của mỗi tổ chức, vì nó nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người nhằm giúp cho tổ chức sử dụng có iệu quả nhân lực và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân vi tạo điều kiện cho nhân viên phát huy năng lực cá nhân, kích thích động viên và tạo dựng sự trung thành, tận tâm.
của nhân viên với tổ chức. Đi sâu vào nội dung của quản trị nguồn nhân lực, người ta còn có thể hiểu quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghỉ cho nhân lực thông qua tô chức. Ở đây, với phương pháp tiếp cận khoa học và linh hoạt của các giảng viên đầu ngành trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, khái niệm quản trị nguồn nhân lực có thê sử dụng như sau: Quản tri nguén nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao. gôm các lĩnh vực như hoạch định NLL, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao, sức khoẻ và an toàn nhân viên, và tương quan lao động.[1 ] Song, dù ở giác độ nào thì quản trị nguồn nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của tổ chức đề thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tô chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
17 Tổng thể điều này tạo nên những hệ thống, cơ chế đảm bảo mối quan hệ tác động. qua lại giữa những người làm việc trong tổ chức, tạo nên các đòn bẩy, các kích thích phát triển tiềm năng sáng tạo của từng người, nối kết những có gắng của từng. người thành những cố gắng chung cho mục tiêu chất lượng và hiệu quả làm việc của tô chức 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Có nhiều cách khác nhau về khái niệm đào tạo, nhìn chung các khái niệm đều đề cập đến quá trình cho phép người lao động tiếp thu kiến thức, học kỹ năng.
các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc Trong Bộ sách Quản trị nguồn nhân lực của George T.Milkovich và John 'W.Boudreau cho rằng: “đào tao là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa đặc điểm của người lao động và những yêu cầu của công việc ” [§]. Đào tạo không chỉ vì đào tạo có nghĩa là đào tạo bao gồm tắt cả những kinh nghiệm hoàn thiện và phát triển những dặc điểm có liên quan đến công việc của người lao động. Qua đó, đào tạo trở thành một vũ khí chiến lược đối với các dân tộc, đối với các tổ chức. Đào tạo nguồn nhân lực là một khâu quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực, đây là một hình thức đầu tư chiến lược [10].
Thông qua việc đào tạo có thể giúp cho. người lao động trong doanh nghiệp xác định rö được nhiệm vụ, chức trách và mục. tiêu công tác của bản than, nâng cao kiến thức và kỹ năng, có được tố chất và khả năng nghiệp vụ thích hợp để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Dao tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong.
một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách. Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp. Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức [13] 18 Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm: trang bị kiến thức phỏ thông, kiến thức chuyên nghiệp và kiến thức quản lý. Đào tạo nguồn nhân lực rất cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người.
Vi vay, đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài như: học việc, học nghề và hành nghề. Đào tạo nguồn nhân lực nhằm mục đích nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó. Ý nghĩa của việc đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Để duy trì sự phát triển của doanh nghiệp, nhà quản trị phải ý thức được một điều rằng: doanh nghiệp trong hiện tại hay tương lai đều cần đến những nhân viên có đầy đủ những kỹ năng cần thiết. Do đó, doanh nghiệp phải coi trọng công tác đào tạo nhân viên và xem đây là khâu cốt yếu trong doanh nghiệp.
Trên thực tế, hầu hết việc đảo tạo nhân viên trong các doanh nghiệp có thê đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích sau: ~ Việc đào tạo có thê giúp cho nhân viên hiểu biết sâu sắc hơn về mục tiêu và văn. hóa của doanh nghiệp, giáo dục cho nhân viên có được sự đồng lòng với doanh nghiệp. ~ Việc đào tạo có thể giúp cho nhân viên hiểu được yêu cầu của công việc.