Chương 1. TONG QUAN TAI LIEU Chương 2. HIEN TRẠNG CONG TAC THOÁT NƯỚC, XỬ LÝ NƯỚC THAI TẠI HÀ NỘI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DE TÀI Chương 3. KET QUÁ NGHIÊN CUU VÀ KIÊN NGHỊ.
KET LUẬN Hồ Trúc Bach (trai) và Hồ Tây (phải) nhìn từ trên cao. Nguôn: Tung Ngo/CNA CHUONG I. TONG QUAN TAI LIEU 1. Một số khái niệm.
Một số khái niệm về nước. Theo quy định tại điều 2 của Luật Tài nguyên nước năm 2012 - Luật số 17/2012/QH13 (Quốc hội, 2012) giải thích một số khái niệm về nước, trong đó có một số giải thích có liên quan tới luận văn này như sau: Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước đưới đất (nước ngầm) và nước biển thuộc lãnh thé nước ta. Nguồn nước là các dạng tích tụ tự nhiên hay nhân tạo có thể khai thác, sử dụng. Nước mat tồn tại trên mặt đất.
Nước dưới đất (nước ngâm) tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất. Luu vực sông là vùng đất trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra ở một cửa chung. Nước sinh hoạt là nguồn nước có thê cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý trở thành nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt. Nước sạch là nước có chất lượng đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước sạch.
Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học và thành phan sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người hay sinh vật. Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng va chất lượng nguồn nước so với thời kỳ trước. Cạn kiệt nguon nước là sự suy giảm nghiêm trong làm cho nguồn không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thuỷ sinh. Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn là khả năng có thé tiếp nhận thêm một lượng nước thải mà vẫn đảm bảo chất lượng nguồn nước cho mục đích sủ dụng đúng tiêu chuẩn và quy chuẩn.
Ngoài ra, còn một số định nghĩa khác nhưng trong khuôn khổ luận văn này, những khái niệm đó không được sử dụng. Định nghĩa về nước thải được quy định tại nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/022 của Chính phủ, theo đó nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. - Ô nhiễm nguồn nước là việc nguồn nước chứa hàm lượng cao các chất gây nguy hại cho sức khoẻ con người, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các loài động thực vật, phá huỷ hệ sinh thái và môi trường nước. - Xử lý nước thải ngược với quá trình bi ô nhiễm khi các đặc điểm của nước bị thay đổi.
Quá trình xử lý nước thải chính là quá trình loại bỏ các chất gây 6 nhiễm ra khỏi nước thải. Có thé có nhiều quá trình kết hợp hoặc riêng lẻ các phương thức vật lý, hoá học hay sinh học nhằm loại bỏ các chất ô nhiễm gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người hoặc huỷ hoại môi trường. Quá trình xử lý nước thải còn nhăm khôi phục trạng thái an toàn đối với nước thải trước khi được trả lại môi trường, cung câp ngược trở lại đê sử dụng với các mục đích khác nhau. Khát niệm về an ninh - An toàn và an ninh: Theo định nghĩa của GS.
Nguyễn Văn Hưởng và PGS. Hoàng Đình Phi thì “bất kỳ khái niệm an ninh nào đều lấy con người làm trung tâm dé bảo vệ hay đối tượng cần được bảo vệ vì có thể bị tổn thương do mất an ninh, tình hình mất an ninh hay khi rủi ro đã trở thành khủng hoảng”. Xét ở góc độ an ninh của một cá nhân có thé nhận thấy, ở một trạng thái hay một mức độ nào đó mà ở đó, trong một không gian, thời gian và địa điểm cụ thể, một con người được cảm thấy được an toàn về mặt tâm lý và trên thực tế cá nhân được an toàn và tự do. Trong tiếng Anh: An toàn là Safe và An ninh là Security.
An ninh có ý là an toàn, bình an, ngược với nguy (Nguyễn Văn Hưởng và Hoàng Dinh Phi, 2021, TLHT). An ninh là sự tồn tại mà không có nỗi lo của sự bất ồn, không có nỗi sợ hãi và cao hơn là sự an toàn về cả thể xác và tâm hồn; là khi mà các nhu cầu vật chất cơ bản được đáp ứng và là khi con người đạt đến sự tự do quyết định mà không lo bị bóc lột hay thống trị về cả thé xác và tâm hồn. Ngược với an ninh là mat an ninh khi mà trạng thái của con người bị tôn thương hoặc tài sản bi de doa (Nguyễn Văn Hưởng, 2021, TLHT). Xét ở góc độ an ninh truyền thống phải lấy quốc gia làm trung tâm va chủ đạo dé tiếp cận nhận thức về an ninh và an ninh có thé xét ở các nhóm như an ninh quốc gia hay an ninh quốc tế, an ninh chính trị hay an ninh quân sự và theo các cách hiểu truyền thống thì mối quan tâm khi nhắc tới cụm từ an ninh là nhac tới sự bất ôn ở các quy mô hay đơn giản hơn là nhắc tới xung đột và chiến tranh.
Và khi đó thì mối quan tâm của con người là hoà bình, là kết thúc xung đột và chiến tranh. Khái niệm ban đầu của An ninh quốc gia hay An ninh truyền thống là an ninh chính trị và an ninh quân sự và có thé hiểu đó là sự tồn tại chế độ cai trị cùng với chủ quyền quốc gia đi kèm lợi ích quốc gia. Khi mở rộng khái niệm về An ninh quốc gia sẽ bao gồm an ninh chính trị đi kèm an ninh kinh tế và an ninh văn hoá tư tưởng. Trên bình diện quốc gia, bat kỳ quốc gia nào cũng đều có sự de doa từ cả an ninh truyền thống và ANPTT.
Vì vậy, sự vững chắc của hệ thống an ninh quốc gia là sự thống nhất trọn vẹn trong tư duy và hành động giữa ANPTT và an ninh truyền thống. 7 trụ cột an ninh theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc: lương thực, kinh tẾ, sức khoẻ, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị. (Human Development Report 1994, UNDP, Published Jan 1, 1994.) Theo quan điểm của Mỹ thì an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống năm trong phạm vi an ninh quốc gia, đe doa các lợi ích của Mỹ (Hoàng Đình Phi, 2021, tài liệu học tập). ASEAN đưa ra đánh giá về sự đe doạ về ANPTT băng việc bày tỏ “sự quan ngại về những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng như buôn lậu, ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển khủng bố, buôn lậu vũ khí, tội phạm kinh tế và tội phạm công nghệ cao” (Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the Field of Non-Traditional Security Issues 6th ASEAN-China Summit Phnom Penh, 4 November 2002, 14/05/2002, asean.
Quan điểm của Việt Nam về an ninh quốc gia được thé hiện trong các chiến lược phát triên kinh tê xã hội của Đảng, các đạo luật về an ninh quôc gia, vê bảo vệ 10 môi trường hay các chiến lược phát triển bền vững của chính phủ. như sau: ANQG là bộ phận đặc biệt quan trong trong hệ thống quan điểm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (Lương Tam Quang, Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, 2022, www.vn) Ngày 5 tháng 9 năm 2019, Bộ Chính trị ban hành nghị quyết 51-NQ/TU về chiến lược an ninh quốc gia trong tình hình mới, trước những thay đổi mang tính chiến lược toàn cầu và sự bùng nô về khoa học kỹ thuật, sau khi tổng kết 20 năm thực hiện nghị quyết DH8 của Đảng (Bộ Chính trị, Nghị quyết 51/NO-TU, 2019). ANQG là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ồn định, phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự én định về chính trị, biên giới, chủ quyền lãnh thé quốc gia và an ninh, an toàn của xã hội. (Lương Tam Quang, Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, 2022, www.
Quan điểm nhóm tác giả MNS: “An ninh quốc gia = An ninh truyền thống + An ninh phi truyền thống Quốc gia = Nhà nước = Nhân dân làm chủ. Lợi ích quốc gia = Lợi ích nhà nước + Lợi ích nhân dân. An ninh quốc gia = An ninh nhà nước + An ninh nhân dân. An ninh nhân dân (mở rộng) = An ninh con người (1 cá nhân, | nhóm, 1 cộng đồng nhỏ hay lớn) + An ninh doanh nghiệp.
Lấy nhà nước làm trung tâm: có an ninh chính trị quốc gia, an ninh quân sự quốc gia, an ninh kinh tế quốc gia, an ninh văn hoá và tư tưởng quốc gia. Lay con người làm trung tâm: an ninh nhà nước, an ninh con người và an ninh doanh nghiệp”. An ninh phi truyền thống 1. Tổng quan về an ninh phi truyền thong ANPTT gồm 5 lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị và văn hoá (World Bank, World Bank Development report, 1986).
ANPTT là một khái niệm rộng va duoc bàn nhiều thời gian gần đây nhất là sau thời kỳ chiến tranh lạnh bao gồm nhiều loại hình an ninh không dựa vào các phương tiện truyền thống. Chủ thé của ANPTT van là sự an toàn của quốc gia, dân 11 tộc, cộng đồng hay con người (Nguyễn Văn Hưởng, 2021, HSB TLHT). Khi khoa học công nghệ phát triển, việc ứng dụng tiến bộ khoa học cho đời sông thì cũng đồng thời kèm theo là những thách thức đối với sự bùng nỗ các loại hình tội phạm phi truyền thống đe doa trực tiếp tới sự an toàn của quốc gia, dân tộc, cộng đồng hay an toàn của con người. ANPTT là các mối đe doạ đến từ cách thức phi truyền thống, phi quân sự và phi nhà nước (Nguyễn Xuân Yém, 2021, HSB TLHT).
ANPTT trong bối cảnh bùng nổ về công nghệ kèm theo đó là những khái niệm như biên giới mềm và xoá nhoà đi các cách thức tiếp cận và rút ngắn về không gian và thời gian của các chủ thể ảnh hưởng trực tiếp đe doạ sự an toàn của cộng đồng hay cá nhân. Đồng thời xuất hiện thêm những thách thức xuyên biên giới như tội phạm mạng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. ANPTT thách thức vai trò chủ đạo do nhà nước nắm giữ trong bối cảnh thế giới mới và vận động không ngừng (Nguyễn Văn Hưởng, 2021; Hoàng Đình Phi, 2021, TLHT).