mở đầu cho chế độ Thái Thượng hoàng và vua Tự quân ở Việt Nam. Đây là một chính sách độc đáo nhằm kết hợp kinh nghiệm trị nước của vua cha với việc đào tạo huấn luyện cho người kế nghiệp. Chính vì vậy mà khi nhường ngôi nhưng quyền hành chính và những quyết định quan trọng vẫn nằm trong tay vua cha. Chính sách này cũng là phòng ngừa những người trong hoàng tộc có thể tranh cướp ngôi của nhau.
Sau khi nhường ngôi, Thượng hoàng Trần Thái Tông lập tức bắt tay vào việc mở rộng hành cung Tức Mặc: “Tháng hai năm Nhâm Tuất (1262), Thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban hai tư, đàn bà được hai tấm lụa đỏ. Đổi hương Tức Mặc thành phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu gọi là Trùng Hoa.
Lại làm chùa phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này. Do đó đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu thủ để trông coi”[14:33]. Phủ Thiên Trường bấy giờ là cả một vùng rộng lớn thuộc miền hữu ngạn hạ lưu sông Hồng và một phần tả ngạn ở huyện Thư Trì, Thái Bình [1:140], tương đương với thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực (Nam Định) và vùng đất phía nam huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình hiện nay.
Tức Mặc với hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa chính là thủ phủ của đất Thiên Trường. Bao quanh hai cung Trùng Quang và Trùng Hoa là các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Lan Hoa, cùng các điền trang thái âp dành cho các vương phi, công chúa và hoàng thân quốc thích: “Sau gia miếu thì khu Lộc Quý dành cho Trung Vũ vương Trần Thủ Độ, Bảo Lộc dành cho 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khu Thiên Bồi dành cho Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, tất cả đều đặt thành ấp thang mộc, dân tạo lệ”[63]. Phủ Thiên Trường được coi là một phủ quan trọng sau kinh đô Thăng Long. Theo quy định nhà Trần, đứng đầu phủ Thiên Trường là chức An phủ sứ.
Những viên quan đảm trách chức vụ này phải là người đã từng qua trị nhậm ở các lộ khác, đủ lệ khảo duyệt thì mới được vào làm An phủ sứ Thiên Trường. Đảm đương trọng trách ở Thiên Trường cũng là thử thách bước đầu. Như vậy những người được giao trọng trách An phủ sứ Thiên Trường phải là người có phẩm cách tốt, từng trải và có thực tài. Một trong những người tiêu biểu giữ chức vụ này là Phí Trực.
Ông là người có tài xét xử, đã từng xử thành công vụ án Văn Khánh – kẻ cầm đầu đảng nghịch, được Thượng hoàng Trần Anh Tông rất khen ngợi. Vì thành tích đó, năm 1317, Phí Trực được phong làm Thừa bộ lang trung kiêm giữ chức An phủ sứ Thiên Trường. Đứng ở vị trí thứ hai sau kinh đô Thăng Long, hành cung Thiên Trường sớm trở thành một trung tâm văn hoá. Bao quanh cung điện còn làng Liễu Nha trước kia là vườn liễu, làng Lựu Phố trước kia là vườn lựu, làng Phương Bông là nơi múa hát phục vụ cung đình, làng Văn Hưng là nơi bình văn thơ.
Cuốn Trần Thị gia huấn cho biết: “Làm nội cung để cho các hậu ở, làm nội khố để dự trữ tiền lương…Phía sau cung ở bờ bắc sông Vĩnh lập cung Hoa Nha và đặt văn miếu”[63]. Đặc biệt việc học hành thi cử trên đất Thiên Trường đã khởi sắc từ khi vua Trần cho lập nhà học ở đây vào năm 1281. Cuốn Nam Định địa dư chí 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Nguyễn Ôn Ngọc viết : “Văn miếu của huyện Mỹ Lộc được xây từ thời Trần Thái Tông tại bộ phận xã Hoa Nha nay là làng Liễu Nha, tạc tượng thánh và tượng tiên hiền để vua thân hành đến lễ”[44]. Chính vì thế mà từ mảnh đất này đã đào tạo và nuôi dưỡng nên những nhân tài kiệt xuất lúc bấy giờ như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật…cùng những vị Trạng nguyên tuổi trẻ tài cao như Nguyễn Hiền, Trần Đạo Tái… Bên cạnh việc xây dựng các công trình đền đài, cung điện nhà Trần cũng chú ý đến việc xây dựng một hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi bao quanh khu vực Thiên Trường.
Tức Mặc lúc bấy giờ là một vùng gần biển, có hệ thống sông ngòi chằng chịt. Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy nằm hai bên, còn có một hệ thống các sông nhỏ đan xen như sông Vĩnh, sông Châu Giang, sông Sắt. Từ kinh đô Thăng Long có thể xuôi theo dòng sông Nhị (sông Hồng), rẽ vào sông Đại Hoàng, sông Vĩnh Tế là tới Tức Mặc [29:7]. ở đây cũng cần phải nói rõ tầm quan trọng của con sông Vĩnh Giang (Vĩnh Tế) đối với nhà Trần bấy giờ.
Từ kênh Phụ Long, sông Vĩnh Giang chảy qua các cung Đệ Nhị sang cung Đệ Nhất, cung Đệ Tam, làng Văn Hưng vòng qua Liễu Nha lên cung Trùng Quang, Trùng Hoa rồi chảy tiếp qua chùa Phổ Minh, qua làng Hậu Bồi, Phú ốc để cuối cùng đổ vào kênh Tiểu Cốc, nhập vào dòng An Tiêm. Dòng sông Vĩnh đã nối toàn bộ các cung điện, cùng hệ thống điền trang thái ấp của các quan lại nhà Trần với nhau, trở thành con đường du ngoạn của vương phi công tử nhà Trần. Cuốn An Nam chí lược của Lê Tắc đã tả về khung cảnh Thiên Trường như sau: “ở đây, nước triều quanh thành, hoa cỏ bên bờ tươi tốt, mùi hương xông ngát, có những thuyền hoa trang hoàng đẹp đẽ qua lại trên sông như cảnh tiên vậy”[50:7]. Không chỉ có vậy, sông Vĩnh Giang còn là con đường thuỷ chiến lược của nhà Trần.
Nó không chỉ nối liền giữa Tức Mặc và sông Hồng mà còn nối liền Tức Mặc với Trường Yên, ra cửa Đại An, vào khu vực Thanh Hoá, Nghệ An. Cũng chính từ vị trí quan trọng của con sông này mà sau này nhà Trần đã cho đào một con kênh mới từ Phụ Long (thành phố Nam Định), nơi bắt đầu của sông Vĩnh Giang, qua đất Vị Hoàng để dòng sông không 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quanh co, rút ngắn đường đổ vào sông An Tiêm. Sự ra đời của con sông Vị Hoàng (kênh sống Phụ Long) thời Trần là một việc mở rộng giao thông, cần thiết cho chiến lược, tạo điều kiện cho sự phát triển của quân doanh Vị Hoàng vào thế kỷ XVII-XVIII sau này. Hiện nay, nhân dân phường Lộc Vượng vẫn còn lưu truyền về một con sông nhỏ mang tên Hàm Rồng, bắt nguồn từ sông Vĩnh Giang chảy theo hình tay ngai nối liền khu vực Tức Mặc thành một vòng tròn khép kín.
Vết tích của dòng sông này bây giờ là các thùng ruộng trũng sâu bắt đầu từ khu vực cánh đồng Cửa Triều cách khu vực đền Trần về phía đông khoảng 50m vòng lên làng Liễu Nha (Mỹ Phúc) sang khu vực làng Đệ Tam (Mỹ Phúc) vòng về khu vực Chùa Trắng (Bảo Lộc), lại tiếp tục sang làng Hậu Bồi, chảy qua cầu Quan Âm thuộc chùa Phổ Minh rồi vòng về làng Tức Mặc. Trên cương vực dòng sông này, trong quá trình làm ruộng, canh tác, nhân dân địa phương đã đào thấy nhiều mảnh sành, gạch ngói, đồng tiền mang niên đại Trần. Kết quả thám sát khảo cổ ở bãi Hạ Lan năm 1995, một khu đất cách đền Trần khoảng 500m về phía đông, trên phạm vi của bờ sông Vĩnh Giang xưa đã tìm thấy nhiều gốm sứ, tiền đồng cổ có xuất xứ từ Trung Quốc như Thiên Thánh nguyên bảo là tiền của triều vua Tống Nhân Tông (1028 - 1033); Chính Hoà thông bảo là tiền của triều vua Tống Huy Tông (1111 - 1117)…Ngoài ra dấu vết của các tầng văn hoá có thể cho nhận xét bước đầu rằng vào thế kỷ XIII – XIV, khu vực này không chỉ là nơi có chứa thóc gạo hoặc xay xát thóc gạo, mà còn là một bến đỗ trao đổi buôn bán hàng hoá giữa các địa phương và nước ngoài phục vụ cho hành cung Thiên Trường mà đường thuỷ đóng vai trò quan trọng[24]. Ngoài ra, trong lần khai quật một hồ nước nằm sát cạnh đền Cố Trạch vào năm 2005 đã tìm thấy một loạt cột lim đường kính từ 15cm đến 25cm, dài khoảng 1,5m đến 2,5m được đóng theo chiều thẳng đứng.
Theo ý kiến các nhà chuyên môn, có thể nơi đây xưa kia là một bến neo đậu thuyền. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà Trần mất ngôi vào năm 1400. Trải qua thời gian cùng những biến động lịch sử, những cung điện, công trình kiến trúc xưa kia đã hoàn toàn bị chôn vùi. Những gì còn tồn tại cho đến ngày nay chỉ là những địa danh còn mang nhiều ý nghĩa lịch sử như Kho Nhi, Nội Cung, Cửa Triều…cùng các lớp di vật phong phú còn nằm trong long đất[7];[8];[9];[25];[26];[28];[60].
Các cuộc khai quật khảo cổ học cho thấy khu vực đền Trần – chùa Tháp, nơi mà trước đây tồn tại hai cung điện Trùng Quang và Trùng Hoa là khu đất cao nhất. Cách khu vực trên chừng 200m về phía nam là vùng trũng, thuyền bè có thể đi lại dễ dàng. Tại đền Thiên Trường đã tìm thấy một đường cống thoát nước ngầm, các ống cống được nối với nhau thành nhiều đoạn ống, mỗi đoạn ống dài 34cm, đường kính 30 cm, có tạo gờ để ghép nối. Trong đợt đào thám sát năm 1976 ở độ sâu 0,30m đã gặp một lớp nền móng trong đó có cả gạch bó kè cùng nhiều di vật như ngói, gạch, đầu rồng, đầu phượng…mang phong cách nghệ thuật thời Trần.
Đáng chú ý là những viên gạch lát nền có kích thước vuông (33cm x 33cm x 5cm) với những hoa văn nổi, tinh tế chứa đựng những tư tưởng văn hoá truyền thống. Đó là loại gạch được nung ở nhiệt độ cao, màu sẫm. Xung quanh bốn góc là hoạ tiết cánh sen kép, biểu tượng của Phật giáo, đến lượt thứ hai là hoạ tiết hoa chanh, vòng tiếp theo là hình tròn, ở giữa có hình vuông giống hình một đồng tiền cổ. Rõ ràng thời Trần vẫn quan niệm trời tròn đất vuông.
Điều đáng chú ý là xung quanh các hình vuông đó, bao quanh bốn cạnh có bốn chữ thọ giống nhau, điều đó có thể suy luận mong muốn cho cơ nghiệp nhà Trần trường thọ ngang với trời đất. Ngay trong chính cung của đền Thiên Trường, bức đại tự ghi rõ : “Thiên địa trường tồn”, thể hiện ước vọng của các thần dân và vương triều Trần mong cơ nghiệp trường tồn.