Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý thuyết của công tác bảo vệ và phát huy giá trị DSVH 1. Hệ thống khái niệm Di sản là những giá trị văn hóa, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Di sản gồm các di sản vật thể và di sản phi vật thể.
Di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa (DSVH) vật thể là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền lâu đời trong đời sống của các dân tộc, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, các công trình xây kiến trúc, mỹ thuật, các danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. DSVH vất thể có thể kể đến như đình, chùa, các di vật, các kiến trúc lịch sử, công trình xây dựng. Tất cả các di sản ấy để lại cho chúng ta giá trị văn hóa, nghệ thuật và lịch sử, mang đến cho nền văn hóa Việt Nam đặc sắc. DSVH phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra.
Bảo vệ và phát huy giá trị DSVH * Bảo tồn Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến đổi. * Phát huy 10 Phát huy là từ để chỉ những thay đổi bên ngoài các hiện tượng sự việc. Hay nói cách khác phát huy là làm tỏa ra tác dụng tốt của hiện tượng sự vật.
Phát huy là làm cho mọi người biết đến giá trị của một sự vật và vận dụng giá trị đó vào phát triển văn hóa như một nguồn lực phát triển xã hội. Phát triển du lịch * Du lịch Theo khoản 1 điều 3 Luật du lịch năm 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. * Phát triển du lịch Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai.Phát triển du lịch có thể được nhận thức đầy đủ với 5 nội dung sau: Thứ nhất, là sự tăng trưởng.
Những chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện sự tăng trưởng là: Mức gia tăng lượng khách du lịch; Mức tăng thu nhập từ du lịch; Mức tăng quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật; số lượng việc làm tăng thêm từ phát triển du lịch. 11 Thứ hai, mức độ thay đổi phương thức, cách thức tiến hành các hoạt động du lịch theo hướng ngày càng tiến bộ, hiện đại và hiệu quả đem lại từ các hoạt động, các chính sách về du lịch đó. Cụ thể là những sản phẩm du lịch, những hướng phát triển hiệu quả có tốc độ phát triển nhanh, những công nghệ, phương thức phục vụ hiện đại có năng suất cao được chú trọng phát triển; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch được đầu tư có hiệu quả bảo đảm sự phát triển có tính bền vững cao. Thứ ba, chất lượng và mức độ tham gia của khách du lịch, người dân và các cấp chính quyền địa phương cũng như các doanh nghiệp du lịch, ccoong ty lữ hành du lịch và quá trình phát triển ngày càng tự giác, tích cực trên cơ sở tinh thần cộng đồng trách nhiệm và sự hài hòa vềlợi ích của các bên tham gia.
Thứ tư, xây dựng và phát triển ngànhdu lịch hiện tại không làm tổn hại, tác động tiêu cực đến khả năng hưởng thụ du lịch, hưởng thụ môi trường sống của các thế hệ tương lai. Thứ năm, phát triển du lịch phải bảo đảm sự hài hoà giữa 3 mục tiêu: kinh tế - xã hội và môi trường. Về kinh tế phải bảo đảm duy trì, phát huy nhịp tăng trưởng theo thời gian, không gian và sự tăng trưởng phát triển phải dựa trên cơ sở hiệu quả tăng năng suất lao động chứ không phải chỉ dựa trên sự gia tăng của các yếu tố đầu vào. Về mặt xã hội, ít nhất phải được hiểu trên cơ sở quan điểm toàn diện và bình đẳng giữa những người, giữa các bên tham gia vào quá trình hoạt động du lịch không phải chỉ là thu nhập và trên tất cả các phương diện khác.
Về mặt môi trường, chứa đựng tư tưởng cơ bản sau: các quyết định khai thác tài nguyên du lịch đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên phải bảo tồn, tái sinh các hệ sinh thái, bảo đảm chất lượng môi trường cho hiện tại và cho tương lai; bảo đảm sự phối hợp giữa các hoạt động kinh doanh du lịch với các hoạt động kinh tế, xã hội khác. Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy DSVH với phát triển du lịch Bảo tồn, phát huy DSVH và phát triển du lịch có sự tương tác qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Các giá trị DSVH được xem là dạng tài nguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế. Trên cơ sở những giá trị DSVH, du lịch khai thác để hình thành nên những sản phẩm bán cho khách.
Du lịch giúp quảng bá hình ảnh và những giá trị của DSVH tới nhân loại. Bên cạnh đó, du lịch còn tham gia vào hoạt động bảo tồn, phát huy của chính những giá trị văn hoá. Bởi công tác bảo tồn các giá trị văn hoá đòi hỏi có kinh phí cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ như: Thu thập, nghiên cứu di sản; bảo vệ, tu sửa, tôn tạo…. Trong thực tế, nguồn kinh phí dành cho hoạt động bảo tồn DSVH từ ngân sách nhà nước và hợp tác quốc tế thường rất hạn hẹp.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy DSVH. Sau khi khai thác và trong quá trình vận hành, nguồn kinh phí thu được từ du lịch quay trở lại đầu tư một phần cho di sản như việc tôn tạo, tu bổ, gìn giữ và phát huy thêm những giá trị của DSVH. Nhưng nếu du lịch chỉ khai thác mà không chú trọng đến việc bảo tồn, gìn giữ các DSVH thì các giá trị DSVH dễ dàng xuống cấp hoặc biến dạng. Do đó, việc quan tâm đầu tư về nhân lực, tài lực, vật lực góp phần bảo tồn, tôn tạo, phát huy tốt các DSVH phục vụ cho hoạt động du lịch nói riêng, cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung là một vấn đê vô cùng cấp thiết hiện nay.
Chính vì vậy, sự phát triển du lịch và bảo tồn, phát huy DSVH luôn phải đặt song song với nhau. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy DSVH Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy DSVH gắn với phát triển du lịch được quy định trong: Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998; Luật Di sản văn hóa năm 2013; Nghị quyết số 33 – NQ/TW ngày 9/6/2014. * Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo cơ bản: - Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. - Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền văn hoá Việt Nam là nên văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. - Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. - Văn hoá là một mặt trân; xây dựng, phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng. * Luật Di sản văn hóa năm 2013: Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa (Điều 9). 14 Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích (Điều 12): - Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; - Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; - Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế. * Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày 9/6/2014 của BCH Trung Ương Đảng khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đưa ra quan điểm: - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.