Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý tài sản công tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý tài sản công tại Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1.
Tài sản công tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh 1. Khái niệm tài sản công Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ “ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dữ trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác. ” Theo Giáo trình Quản lý tài sản công: “Tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật; đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời” [6]. Theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, tài sản công là “tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác” [2].
9 Tài sản công hay tài sản nhà nước được hình thành từ ngân sách nhà “ nước hoặc do pháp luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: Trụ sở làm việc, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định. ” Như vậy, có thể hiểu tài sản công là những tài sản thuộc sở hữu của “ Nhà nước. Nói rộng ra, tài sản công thuộc sở hữu của toàn dân. Tài sản công là tài sản vật chất, của cải của đất nước, của nhân dân, phản ánh sức mạnh kinh tế của một quốc gia.
Tài sản công cũng là tiền đề, là yếu tố vật chất, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Đặc điểm tài sản công Theo Phan Hữu Nghị (2009), tài sản công có các đặc điểm sau: “ - Tài sản công phong phú về chủng loại. Mỗi loại tài sản có tính năng, công dụng khác nhau và được sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo các tiêu thức khác nhau. Tài sản công nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi loại tài sản lại có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác nhau,.
Do đó, việc quản lý mỗi loại tài sản công cũng sẽ khác nhau. - Tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản công lại không phải là những người có quyền sở hữu tài sản [8]. Do đó, nếu không quản lý chặt chẽ sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng tài sản lãng phí, thất thoát. - Tài sản công được phân bổ khắp các địa phương của Việt Nam, được giao cho các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng [8].
Có loại tài sản đa số các tổ chức, cá nhân có yêu cầu sử dụng và được Nhà nước 10 trực tiếp quản lý, sử dụng như trụ sở, xe ô tô phục vụ công tác,. Có loại tài sản chỉ có một ngành hoặc một số tổ chức, cá nhân có yêu cầu sử dụng phù hợp tính chất hoạt động đặc thù của tổ chức và được Nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng. Do đó, cơ chế quản lý và tổ chức bộ máy quản lý tài sản nhà nước phải được bố trí cho phù hợp. ” “ - Tài sản công gồm hai loại đó là tài sản kinh doanh (tài sản nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức kinh tế khác của Nhà nước), tài sản không kinh doanh (tài sản công giao cho cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công (không kinh doanh), đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác [8].
Do đó, cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức quản lý nhà nước cũng phải bố trí phù hợp với từng loại tài sản nhưng vẫn phải đảm bảo thống nhất trong toàn bộ cơ chế quản lý tài sản công. Phân loại tài sản công Theo các tiêu chí khác nhau, tài sản công cũng được phân loại theo nhiều loại khác nhau. Cụ thể như sau: - Theo thời hạn sử dụng, tài sản công được phân thành các loại tài sản “ có thể sử dụng vĩnh viễn không mất đi như tài nguyên đất, tài nguyên nước, không khí. và các tài sản có thời hạn sử dụng nhất định như tài nguyên khoáng sản và các tài sản nhân tạo khác [7].
Tuy nhiên, việc phân loại ra tài sản sử dụng vĩnh viễn và tài sản sử dụng có hạn chỉ là tương đối, vì ngay tài nguyên đất, nước, không khí, nếu không có biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ hữu hiệu, thì sẽ bị xói mòn, cằn cỗi, cạn kiệt hoặc ô nhiễm.” - Theo nguồn gốc hình thành, tài sản công được phân thành tài nguyên thiên nhiên và tài sản nhân tạo [7] “ Tài nguyên thiên nhiên là các loại tài sản do thiên nhiên ban tặng cho quốc gia và thuộc chủ quyền của quốc gia như: Đất, rừng tự nhiên, vùng trời, 11 vùng biển, mặt nước, khoáng sản trong lòng đất, những danh lam thắng cảnh, không khí, môi trường. Tài sản nhân tạo là tất cả các tài sản do con người tạo lập ra và được duy trì qua các thế hệ như: Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình văn hoá, các cổ vật, nhà ở, nhà làm việc, nhà dùng vào sản xuất kinh doanh, phương tiện và thiết bị làm việc, thiết bị máy móc sản xuất, tài sản tài chính. Tài sản nhân tạo chủ yếu được hình thành từ nguồn tiền của NSNN và một phần là những tài sản mà Nhà nước thu nạp được như các tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. ” - Theo đối tượng quản lý, sử dụng tài sản Theo cách phân loại này, tài sản công gồm [7]: + Tài sản công khu vực hành chính, sự nghiệp là những tài sản của nhà nước giao cho cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công (đơn vị “ sự nghiệp của Nhà nước), đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp) quản lý và sử dụng gồm: đất đai; Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai: trụ sở làm việc, nhà công vụ, nhà công thự, cơ sở hoạt động sự nghiệp; Các phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc, phương tiện thông tin, cứu hoả và các tài sản khác; Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia (gồm hệ thống công trình giao thông vận tải: đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, bến cảng, bến phà, bến xe, sân bay, nhà ga.; hệ thống công trình thuỷ lợi: đê điều, hệ thống kênh mương, trạm bơm, hồ chứa nước, đập thuỷ lợi.; hệ thống công trình điện, chiếu sáng, cấp, thoát nước, công viên.; hệ thống công trình văn hoá, di tích lịch sử đã được xếp hạng; các công trình kết cấu hạ tầng khác).
” 12 “ - Tài sản công giao cho các doanh nghiệp quản lý, sử dụng, bao gồm: nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải, vốn bằng tiền. - Tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật bao gồm: Tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; Tài sản bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, tài sản vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật; Tài sản do các tổ chức biếu tặng, đóng góp hoặc giao lại Nhà nước và tài sản viện trợ của Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ. + Tài sản dự trữ quốc gia. + Đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi thủy sản, vùng trời, thềm lục địa (sau đây gọi chung là đất đai và các tài nguyên quốc gia khác).