mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP CẤP HUYỆN 1.
hái niệm, ặc iểm và phân loại cụm công nghiệp 1. Khái niệm cụm công nghiệp Cụm công nghiệp (tiếng Anh là industrial cluster) trên thực tế đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các nhà kinh tế học theo lý thuyết cổ điển nhƣ Marshall (1920), Weber (1929) cho rằng lý do các doanh nghiệp tập trung ở một khu vực địa lý là nhằm tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô do sự tập trung của lực lƣợng lao động, các yếu tố đầu vào, các dịch vụ chuyên biệt và để tận dụng sự lan tỏa của công nghệ. Các nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế mới nhƣ Krugman (1995), Venables (1996) lại cho rằng cấu trúc không gian của các hoạt động kinh tế đƣợc hình thành là do tác động của lực tập trung và lực phân tán.
Lực tập trung dẫn tới sự quy tụ của các hoạt động kinh tế là do nguồn cung lao động và các yếu tố đầu vào dồi dào, sự lan tỏa của công nghệ. Potter (1990,2000) lại xem xét CCN từ góc độ cạnh tranh coi sự hình thành của các CCN là một chiến lƣợc kinh doanh nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của một khu vực trong môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu. Quan điểm này của Potter đề cập nhiều tới năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực, theo đó các CCN là nơi tập trung của các mối liên kết quan trọng và là nơi có sự lan tỏa của công nghệ, kỹ năng, thông tin. Do những lợi thế này, các doanh nghiệp có năng suất cao hơn và khả năng đổi mới lớn hơn và do vậy có thể tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của mình.
Theo Potter, CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty, các tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm một loạt các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ những ngƣời sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Nhƣ vậy, CCN là một khái niệm không mới trên thế giới nhƣng ở Việt 10 Nam, khái niệm CCN mới đƣợc đề cập đến trong những năm gần đây. Theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành quy chế quản lý CNN, CCN là khu vực tập trung các DN, cơ sở sản xuất CN-TTCN, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất CN-TTCN; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh [4] Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 68/2017/NĐ-CP về quản lý và phát triển CCN: CCN là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống, đƣợc đầu tƣ xây dựng nhằm thu hút, di dời các DN nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh [2].
Tóm lại, có thể hiểu CCN là một hệ thống sản xuất địa phƣơng, đƣợc đặc trƣng bởi sự tập trung theo địa lý các DN sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các DN đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các DN trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lƣới các nhà cung cấp, mạng lƣới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ. Đặc điểm của cụm công nghiệp CCN là khu tập trung các DN có quy mô vừa và nhỏ, chuyên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hay cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất. CCN có quy mô diện tích không vƣợt quá 75 ha và không dƣới 10 ha.
Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vƣợt quá 75 ha và không dƣới 5 ha [1]. Có các lĩnh vực đƣợc khuyến khích đầu tƣ trong CCN nhƣ: Chế biến nông - lâm - thủy sản; Sản xuất sản phẩm, phụ tùng, lắp ráp, sửa chữa máy 11 móc - thiết bị phục vụ nông nghiệp; Sản xuất sản phẩm sử dụng nguyên liệu tại chỗ; Cơ sở sản xuất triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trƣờng… Việc Quy hoạch xây dựng CCN phải đƣợc Nhà nƣớc phê duyệt; có chủ đầu tƣ xây dựng hạ tầng kỹ thuật; có khả năng lấp đầy 30% DN sau 01 năm thành lập [1]. Các CCN góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế, tạo việc làm cho ngƣời dân, mang lại thu nhập ổn định và nâng cao cho ngƣời dân. Phân loại cụm công nghiệp Thứ nhất, phân theo chức năng Cụm công nghiệp làng nghề (CCNLN): Là mô hình CCN tập trung quy mô nhỏ có diện tích ban đầu khoảng 3 -5 ha, sau đó phát triển lên.
Ban quản lý chủ yếu ở cấp huyện với nhiệm vụ chính là theo dõi quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng hạ tầng, việc cho thuê và sử dụng đất đai. Các CCNLN phục vụ cho làng nghề cụ thể tại địa phƣơng. Vốn đầu tƣ chủ yếu là vốn vay và vốn huy động từ các cơ sở sản xuất có nhu cầu di dời và mở rộng sản xuất của làng nghề [6]. CCN tổng hợp (đa ngành): Là CCN đƣợc hình thành trên địa bàn huyện, thƣờng do UBND cấp huyện thực hiện đầu tƣ và quản lý phát triển, nhằm thu hút đầu tƣ của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong và ngoài địa phƣơng.
CCN tổng hợp thƣờng có quy mô lớn hơn CCNLN. Diện tích ban đầu có thể từ 5-10 ha, giai đoạn sau phát triển lên khoảng 30-75 ha và có thể thu hút nhiều DN sản xuất công nghiệp khác nhau. Các CCN này thƣờng đƣợc hình thành trên cơ sở nhu cầu của một số các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có phải di dời hoặc cần phát triển mới. Nguồn vốn xây dựng chủ yếu do một tổ chức, một hoặc một số tự nguyện góp vốn xây dựng, một phần là vay vốn ƣu đãi của Nhà nƣớc, tự thành lập ban quản lý riêng.
Ngoài ra còn đƣợc hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách theo chính sách ƣu đãi của Chính phủ và địa phƣơng. 12 CCN chuyên ngành: Là mô hình CCN mà trong đó hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với nguồn nguyên liệu. CCN hiện đại (nhƣ KCN): Đƣợc xây dựng mới hoàn toàn, chủ yếu do các công ty nƣớc ngoài hoặc các công ty lớn trong nƣớc đầu tƣ xây dựng và phát triển hạ tầng. Nhìn chung các CCN loại này có tốc độ xây dựng hạ tầng tƣơng đối nhanh và chất lƣợng khá cao, tạo điều kiện hấp dẫn các công ty nƣớc ngoài có công nghệ kỹ thuật cao, khả năng tài chính lớn và có chiến lƣợc kinh doanh lâu dài tại Việt Nam.
Ngoài ra, còn có một số loại hình CCN đƣợc hình thành tại khu vực có vị trí địa lý thuận lợi để bố trí một vài điểm đầu tƣ phát triển công nghiệp trong tƣơng lai 10-15 năm tới, với mục tiêu thực hiện các chính sách công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, sẽ có thể phát triển thêm các cơ sở sản xuất công nghiệp vệ tinh dự kiến trong tƣơng lai cũng đƣợc khoanh vùng thành CCN và khu vực này đƣợc các địa phƣơng ƣu đãi, khuyến khích đầu tƣ bằng các chính sách thuê đất và các loại thuế khác nhau [6]. Thứ hai, phân theo chủ thể quản l đầu tư xây dựng hạ tầng CCN do UBND cấp xã, phƣờng làm chủ đầu tƣ; CCN do UBND cấp huyện làm chủ đầu tƣ; CCN do các doanh nghiệp làm chủ đầu tƣ. Thứ ba, phân theo quy mô Cụm công nghiệp dƣới 50 ha; Cụm công nghiệp trên 50 ha. Quản lý nhà nƣớc ối với các cụm công nghiệp cấp hu ện 1.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội (KT-XH), Nhà nƣớc sử dụng các công cụ quản lý của mình với tƣ cách là môi trƣờng, là vật truyền dẫn và khách thể quản lý tới các đối tƣợng quản lý. Các công cụ quản lý vĩ mô bao gồm: Chính sách KT-XH; bộ máy Nhà nƣớc và công chức nhà nƣớc; pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, các quyết định hành chính. 13 Chính sách KT-XH: Là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là nhà nƣớc) sử dụng, nhằm tác động lên đối tƣợng và khách thể quản lý để đạt đƣợc các mục tiêu trong số các mục tiêu chiến lƣợc chung của đất nƣớc một cách tốt nhất sau một thời gian xác định. Bộ máy nhà nƣớc và công chức nhà nƣớc: Theo hiến pháp năm 1992, Bộ máy nhà nƣớc bao gồm các loại cơ quan chủ thể là các cơ quan quyền lực nhà nƣớc (gồm Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp), các cơ quan QLNN (gồm Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp), các cơ quan kiểm sát, các cơ quan xét xử.
Hoạt động của bộ máy nhà nƣớc là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan để thực thi các chức năng lập pháp, hành pháp, tƣ pháp đã đƣợc xác định trong Hiến pháp và tại các Luật về tổ chức các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc. Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và các nguồn lực phải có để thực hiện các mục liêu, các nhiệm vụ đặt ra.