Luận văn Thạc sĩ: Quản lý Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ": { "ai_description": "Tìm hiểu quản lý

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý ngân sách Nhà nước tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ

Quản lý ngân sách Nhà nước tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ là hệ thống tổ chức, kiểm soát và sử dụng nguồn tài chính công hiệu quả nhằm đảm bảo ngân sách địa phương hoạt động bền vững. Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ đóng vai trò trung gian quan trọng trong quá trình thu, chi ngân sách, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để triển khai chính sách tài chính của Nhà nước. Hoạt động quản lý ngân sách tại đây bao gồm lập dự toán, thu, chi, quyết toán và giám sát tài chính. Hệ thống pháp luật về ngân sách, chế độ kế toán và quy trình nghiệp vụ là nền tảng pháp lý quan trọng. Mục tiêu chính là đảm bảo nguồn thu ổn định, phân bổ chi tiêu hợp lý và minh bạch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ. Quản lý ngân sách hiệu quả giúp nâng cao năng lực tài chính địa phương, đáp ứng nhu cầu đầu tư công và an sinh xã hội.

1.1. Khái niệm và vai trò của Kho bạc Nhà nước

Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn. Vai trò chính bao gồm: tổ chức thu ngân sách từ các khoản thuế, phí, lệ phí; chi trả các khoản kinh phí cho các cơ quan Nhà nước theo dự toán được duyệt; giám sát việc thực hiện ngân sách. Kho bạc hoạt động dựa trên nguyên tắc trung gian thanh toán, đảm bảo nguồn vốn được luân chuyển kịp thời và minh bạch. Ngoài ra, Kho bạc còn thực hiện công tác quyết toán ngân sách, cung cấp thông tin tài chính cho các cấp quản lý. Hoạt động của Kho bạc góp phần ổn định tài chính địa phương, hỗ trợ thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của tỉnh.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh quản lý ngân sách

Quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ tuân thủ khung pháp lý gồm: Hiến pháp 2013, Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Luật Kế toán 2015, Nghị định hướng dẫn thi hành luật ngân sách. Các văn bản này quy định nguyên tắc phân cấp quản lý, trách nhiệm của các cấp ngân sách, chế độ kế toán, kiểm toán. Ngoài ra, các quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh Phú Thọ và Bộ Tài chính cũng hướng dẫn cụ thể về phân bổ ngân sách địa phương. Hệ thống pháp luật đảm bảo tính pháp lý, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách.

II. Phân tích thực trạng quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ

Quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ đối mặt nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế biến động. Thu ngân sách chủ yếu từ thuế, phí, lệ phí nhưng tỷ lệ huy động chưa tương xứng tiềm năng kinh tế địa phương. Chi ngân sách tăng cao do nhu cầu đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế nhưng nguồn thu hạn chế dẫn đến bội chi cục bộ. Quy trình quản lý thu, chi còn phức tạp, thiếu đồng bộ giữa các đơn vị liên quan. Hệ thống giám sát tài chính chưa hoàn thiện, dẫn đến rủi ro thất thoát ngân sách. Nguồn nhân lực Kho bạc thiếu hụt về chuyên môn quản lý tài chính công hiện đại. Bên cạnh đó, áp lực cải cách hành chính đòi hỏi Kho bạc phải nâng cao hiệu quả hoạt động. Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động và sử dụng ngân sách địa phương.

2.1. Thu ngân sách Những điểm mạnh và hạn chế

Thu ngân sách tại tỉnh Phú Thọ chủ yếu từ thuế doanh nghiệp, thuế cá nhân, phí và lệ phí. Ưu điểm là hệ thống thu thuế được số hóa, giảm thiểu gian lận. Tuy nhiên, tỷ lệ thu ngân sách trên GRDP còn thấp so với trung bình cả nước. Nguyên nhân do nền kinh tế địa phương chủ yếu là nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô hạn chế. Bên cạnh đó, công tác quản lý đối tượng nộp thuế chưa triệt để, dẫn đến tình trạng trốn thuế, nợ đọng. Hệ thống thuế phí chưa được điều chỉnh kịp thời theo biến động kinh tế. Những hạn chế này đòi hỏi Kho bạc phải tăng cường phối hợp với cơ quan thuế, cải tiến công tác tuyên truyền về nghĩa vụ thuế.

2.2. Chi ngân sách Tình trạng phân bổ và sử dụng vốn

Chi ngân sách tỉnh Phú Thọ tập trung vào đầu tư phát triển hạ tầng, giáo dục, y tế. Tuy nhiên, tình trạng phân bổ vốn còn dàn trải, thiếu trọng tâm do nhu cầu đa dạng từ các ngành. Nhiều dự án đầu tư công chậm tiến độ do thủ tục phức tạp, thiếu vốn đối ứng. Công tác quyết toán chi ngân sách chưa kịp thời, dẫn đến tồn đọng kinh phí. Hệ thống giám sát chi tiêu chưa hiệu quả, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm. Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí, thất thoát ngân sách vẫn xảy ra do thiếu kiểm soát chặt chẽ. Những vấn đề này đòi hỏi Kho bạc phải nâng cao năng lực quản lý, tăng cường minh bạch trong chi tiêu.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ

Để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, Kho bạc tỉnh Phú Thọ cần áp dụng giải pháp đồng bộ từ cải cách quy trình đến nâng cao năng lực cán bộ. Trước hết, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, chi ngân sách để tăng tính minh bạch và giảm thủ tục hành chính. Tiếp theo, tăng cường phối hợp giữa Kho bạc với Sở Tài chính, cơ quan thuế nhằm nâng cao hiệu quả thu ngân sách. Đồng thời, cải tiến quy trình phân bổ chi ngân sách theo hướng ưu tiên các lĩnh vực trọng điểm như giáo dục, y tế, hạ tầng. Bên cạnh đó, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ Kho bạc về quản lý tài chính công hiện đại. Áp dụng cơ chế giám sát chặt chẽ, trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách. Cuối cùng, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về nghĩa vụ thuế của người dân và doanh nghiệp.

3.1. Cải cách quy trình quản lý thu chi ngân sách

Cải cách quy trình quản lý thu, chi ngân sách bao gồm: số hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký thuế đến quyết toán chi ngân sách. Áp dụng hệ thống quản lý ngân sách điện tử để theo dõi dòng tiền theo thời gian thực. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian xử lý hồ sơ từ 30% trở lên. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các khoản thu, chi lớn. Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm đối với nguy cơ thất thoát ngân sách. Đào tạo cán bộ về nghiệp vụ quản lý ngân sách hiện đại. Đánh giá định kỳ hiệu quả hoạt động để điều chỉnh quy trình kịp thời. Những cải cách này giúp nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu sai sót trong quản lý ngân sách.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ và ứng dụng công nghệ

Nâng cao năng lực cán bộ Kho bạc thông qua đào tạo chuyên sâu về quản lý tài chính công, ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về luật ngân sách, kế toán Nhà nước, kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý ngân sách. Tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu để cập nhật kiến thức mới. Đồng thời, đầu tư hệ thống phần mềm quản lý ngân sách tiên tiến, kết nối liên thông giữa các đơn vị liên quan. Áp dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu ngân sách để dự báo nhu cầu tài chính. Những biện pháp này giúp Kho bạc nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho quản lý ngân sách tỉnh Phú Thọ

Quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ nhưng thực thi còn hạn chế do thiếu nguồn lực và năng lực cán bộ. Thu ngân sách chưa tương xứng tiềm năng kinh tế địa phương, chi ngân sách còn dàn trải, thiếu trọng tâm. Giải pháp đề xuất tập trung vào cải cách quy trình, nâng cao năng lực cán bộ và ứng dụng công nghệ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, đảm bảo nguồn lực tài chính bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo cho các tỉnh có điều kiện tương tự trong cả nước.

4.1. Đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách hiện nay

Hiệu quả quản lý ngân sách tại Kho bạc tỉnh Phú Thọ được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ huy động thu ngân sách, tiến độ giải ngân vốn đầu tư, tỷ lệ nợ đọng thuế. Những năm gần đây, tỷ lệ thu ngân sách trên GRDP đạt khoảng 15%, thấp hơn trung bình cả nước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đạt 85%, còn tồn tại do thủ tục hành chính phức tạp. Tỷ lệ nợ đọng thuế giảm xuống còn 5%, nhưng vẫn còn tình trạng trốn thuế ở khu vực doanh nghiệp nhỏ. Hệ thống giám sát tài chính chưa hoàn thiện, dẫn đến rủi ro thất thoát ngân sách. Những đánh giá này cho thấy Kho bạc cần tiếp tục cải tiến quy trình, nâng cao năng lực cán bộ.

4.2. Định hướng phát triển quản lý ngân sách tỉnh Phú Thọ

Định hướng phát triển quản lý ngân sách tỉnh Phú Thọ bao gồm: tăng cường huy động thu ngân sách từ các nguồn tiềm năng như du lịch, nông nghiệp công nghệ cao. Phân bổ chi ngân sách theo hướng ưu tiên lĩnh vực giáo dục, y tế, hạ tầng giao thông. Áp dụng cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả, tăng cường trách nhiệm giải trình. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách, kết nối liên thông giữa các đơn vị. Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ Kho bạc về quản lý tài chính công hiện đại. Những định hướng này nhằm đảm bảo ngân sách địa phương hoạt động hiệu quả, bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Quản lý ngân sách nhà nước và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội 1. Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.

Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua.

NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân.

NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan. Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các 5 quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng. Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp.

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT- XH(1). Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách (1).

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy Quản lý hành chính Nhà nước. Ở nước ta bộ máy Quản lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: trung ương; tỉnh; quận, huyện, thị xã; xã, phường, thị trấn. Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó. Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau: - Ngân sách Trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.

- Ngân sách Trung ương đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách. - Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao. 6 - Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó cân đối. Trường hợp cơ quan Quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan Quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó.

- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới. - Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.

NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, nguyên tắc cân đối. Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý do sau: Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ Trung ương đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; NSTW và NSĐP hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất. Nguồn tài chính quốc gia được tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.

Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định. Nguyên tắc tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống NSNN và tăng cường quyền lực của chính quyền TW. Tuy nhiên để phù hợp với xu thế phát triển nền dân chủ chính trị, đi đôi với việc tăng cường tập trung quyền lực của chính quyền TW cần phải đẩy mạnh thể chế dân chủ thông qua việc 7 phân cấp quản lý NSNN và tăng quyền tự chủ cho các cấp ngân sách trong việc tổ chức và khai thác tối đa nguồn lực của địa phương để thúc đẩy sự phát triển của địa phương.

Việc phân cấp mà nội dung cốt lõi của nó là sự phân quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể quản lý đối với NSNN. Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý NSNN xuất phát từ xu hướng mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị. Người dân nộp thuế cho Nhà nước có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch các khoản thu, chi của NSNN để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công. Và để thực hiện nội dung này Chính phủ cũng đã có những quy định cụ thể để công khai ngân sách các cấp.

NSNN vừa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch vừa phải được kiểm tra, kiểm soát theo một cơ chế được tổ chức chặt chẽ, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính. Phân cấp quản lý NSNN: Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách là một tất yếu khách quan. Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động của NSNN. Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong thu chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia.

Phân cấp ngân sách gắn liền với nội dung phân cấp hành chính. Phân cấp ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương mà còn phải hướng đến nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch. * Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách là: (Phạm Đình Cường (2004), “Phân cấp trong lĩnh vực tài chính – ngân sách ở Việt Nam”, Tài chính, (3), tr. - Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức tài chính.

Đây là nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách. - Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách. Đây là mối quan hệ lợi ích nên trong thực tế giải 8 quyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn. Do đó phải xác định rõ nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền.

Phân cấp này phải ổn định và đảm bảo cho NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thu lớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thời những nhiệm vụ nào ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộng phân cấp cho chính quyền địa phương. - Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách. Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách. * Nguyên tắc phân cấp NSNN: - Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp.

Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi chính quyền về quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp. Đồng thời phân cấp NSNN phải đồng bộ với phân cấp QLKT nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi được giao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ