Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN NGANH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1. Ngành thương mại dịch vụ 1. Khái niệm, đặc trưng ngành thương mại dịch vụ 1. Khái niệm a) Thương mại: Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hoá, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,.
giữa hai hay nhiều đối tác và có thé nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hoá, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hang hoá, dịch vu,. cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá tri trong đương nao đó [29, tr. Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hoá và dịch vụ.
Sự phát triển kinh tế và hoạt động kinh doanh đã làm cho khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng. Mức độ phát triển khác nhau của các nước dẫn đến khái niệm thương mại được hiểu theo các nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, khái niệm thương mại dùng để chỉ các hoạt động liên quan đến quá trình cung ứng dịch vụ, đầu tu, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1 điều 3, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam). Trong khi đó, khái niệm thương mại trong luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của phần lớn các nước được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao trùm rất nhiều lĩnh vực như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các hoạt động đầu tư liên quan đến thương mại.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng xem thương mại hoạt động với chức năng chủ yếu là mua, bán hàng hoá và các dịch vụ mua bán kèm theo. Vậy, thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàhoáhóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hoá (kinh doanh hàhoáhóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế) [2, tr. Trong pháp luật của một số nước có nền kinh tế phát triển, TMDV có nội dung rộng hơn, nó bao gồm tất cả các hoạt động thương mại thuần tuý (mua và bán hàng hoá) và cả hoạt động sản xuất công nghiệp, cùng hầu hết các dịch vụ trên thị trường như: dịch vụ hàng không, dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm,.
Ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu thì TMDV không chỉ là hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý mà gồm cả những dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hoá như: đại diện, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, quảng cáo thương mại, gia công thương mại,. Như vậy, khái nệm TMDV được hiểu rộng hơn khái niệm thương mại trước đây. b) Dịch vụ: Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân (KTQD) là do sự phân công lao động xã hội. Chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội, là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, dan đến sự ra đời của ngành dịch vụ.
Ngày nay, dịch vụ phát triển rất đa dạng và có vai trò ngày càng quan trong trong quá trình phát triên KT-XH của các quốc gia. Toàn bộ hoạt động của nền KTQD người ta chia thành ba lĩnh vực, đó là: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là những hoạt động phục vụ cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể nào đấy như: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du lịch, địch vụ đầu tư, dich vụ thương mai. Theo nghĩa rộng: dich vụ gồm toàn bộ các ngành nghé hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá như thương mại, ngân hàng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đầu tư; các hoạt động phục vụ cho đời sống nhân dân như y tế, giáo dục, nghệ thuật, bảo hiểm,.
đều thuộc về lĩnh vực dịch vụ. Dịch vụ bao gồm toàn bộ những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu các yếu tô “đầu vào” và giải quyết các yếu tố “đầu ra” của sản xuất cũng như đời sống con người. Hoạt động địch vụ phát triển đến trình độ cao thì có mặt ở tất cả các lĩnh vực và có tác động rất lớn đến quá trình phát triển KT-XH, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. Dịch vụ với quan niệm đó không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống như: vận tải, thương mại, ngân hàng, bưu điện, bảo hiểm, truyền thông liên lạc, du lịch mà còn có cả những lĩnh vực rất mới như: xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, tiếp đón, dịch vụ văn hoá, dịch vụ hành chính, tư vấn pháp luật, tư vấn tình cảm và ngay cả đến dịch vụ tháp tùng riêng.
Trong lý luận của minh C.Mác cho rằng dich vụ cũng là hang hoá nên nó vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị trao đổi. Như vậy, dịch vụ là những hoạt động lao động tạo ra các hàng hoá không tồn tại dưới dạng vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu của sản xuất và đời sống con người. Ngành dịch vụ lại tiếp tục phân chia ra thành các nhóm khác nhau. Căn cứ theo sản phẩm chủ yếu, Liên hợp quốc đã phân chia dịch vụ thành 5 cấp với 964 loại sản phẩm.
Dựa vào cách phân loại này, ở Việt Nam dịch vụ được phân thành bốn nhóm ngành lớn, gồm: - Dịch vụ thương mại, dịch vụ khách sạn và nhà hàng. - Dịch vụ vận tải, kho bãi và thông tin liên lac. - Dịch vụ kinh doanh bao gồm các loại dịch vụ nông nghiệp, khai thác mỏ và công nghiệp chế biến,. - Dịch vụ cá nhân, xã hội và công cộng.
Ngành TMDV là một ngành của nền KTQD, thực hoán chức năng tô chức lưu thông hàng hóa dịch vụ trong nước và quốc tế. Là một ngành trong nền KTQD, nên TMDV cũng phát triển theo những qui luật kinh tế chung có tác động trong toàn bộ nền KTQD. Mặt khác, cần thấy rằng đây là một ngành KTQD độc lập, được tách khỏi các ngành sản xuất nên nó cũng có qui luật phát triển riêng. Tóm lại, trong nền KTQD ngành TMDV là một ngành kinh tế độc lập, nó không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng lại phục vụ cho quá trình sản xuất và tái sản xuất.
Dịch vụ nói chung và TMDV nói riêng có vai trò to lớn, đây nhanh tốchoáđộ lưu chuyền hàng hóa tiền tệ, phát triển và ôn định thị trường, làm thay đổi căn ban cơ cau của nền KTQD. Đặc trưng cơ bản của ngành thương mại địch vụ TMDV là một ngành KTQD độc lập, được tách ra khỏi ngành sản xuất nên nó cũng có qui luật phát triển riêng. Ngành TMDV phụ thuộc vào sự tiến bộ của sản xuất và trình độ quản lý kinh tế của đất nước. Những điều kiện này thay đổi thì phương thức quản lý và kinh doanh thương mại cũng có sự thay đổi tương ứng.
Trong xã hội có sự phân công lao động đã tạo ra một khối lượng hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn, cho nên có sự trao đổi các sản phẩm hàng hoá với nhau. Nhưng dé các dạng trao đôi trở thành thương mai thì phải thoả mãn những yêu cầu chủ yếu sau đây: - Thứ nhất: trao đối (hàng hoá, dịch vụ) phải bằng tiền, du đó là tiền mặt hay ngân phiếu, tín phiếu hoặc kim loại quý. - Thứ hai: trao đôi thực hiện trên thị trường theo qui luật của chúng, không phải theo những qui định hành chính, những luật lệ cứng nhắc. - Thứ ba: mua bán theo giá cả thị trường.
Đây là loại giá cả được hình thành trên thị trường trong môi trường cạnh tranh do quan hệ cung - cầu quyết định. Vậy, thương mại là lĩnh vực trao đổi hang hoá, dịch vụ trên thị trường (trong nước và quốc tế) được thực hiện thông qua mua và bán bằng tiền, tự đo theo giá cả thị trường. * Đặc trưng cơ bản của ngành TMDV Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, ngoai những đặc trưng trên, ngành TMDV còn có những đặc trưng riêng như: - Thương mại hàng hoá, phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phan (thương mại nhiều thành phan). Cơ sở khách quan của sự tổn tại nhiều thành phan đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về lực lượng sản xuất (TLSX).
Các thành phần kinh tế ở Việt Nam (Theo Cương lĩnh xây dựng đất nước sửa đổi năm 2011) bao gồm 04 thành phần sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu đài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn đề phát triển kinh tế, phát triển thương 10 mại trong điều kiện hội nhập. - TMDV phát triển theo định hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà nước. Sự vận động của thương mại theo cơ chế thị trường không thê giải quyết hết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân hoạt động thương mại đặt ra, vì vậy sự tác động của nhà nước vào các hoạt động thương mại là một tất yếu của sự phát triển.
Thông qua pháp luật, các chính sách, chiến lược qui hoạch và kế hoạch phát triển thương mại, nhà nước quản lý các hoạt động thương mại trong trật tự kỷ cương, kinh đoanh theo đúng qui tắc của thị trường. - Thương mại tự do hay tự do lưu thông hàng hoá dịch vụ theo qui luật KTTT và theo pháp luật. TMDV làm cho sản xuất hàng hoá phù hợp với những biến đổi không ngừng của thị trường trong nước và thế giới, với tiến bộ kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đồng thời thông qua việc phục vụ tiêu dùng (sản xuất và cá nhân) làm nảy sinh những nhu cầu mới mà kích thích sản xuất. Tự do thương mại làm cho lưu thông hàng hoá nhanh chóng, thông suốt là điều kiện nhất thiết phải có dé phát triển ngành TMDV và kinh tế hang hoá.
Sản xuất được cởi mở nhưng việc mua bán những sản phẩm sản xuất bị gò bó hạn chế thì rút cuộc sản xuất cũng bị kìm hãm.