Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về ngành tiểu thủ công nghiệp 1. Ngành tiểu thủ công nghiệp Ngày nay, trên thế giới có hai quan niệm về TTCN: * Về tiểu công nghiệp: mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về tiểu công nghiệp có tính chất hành chính, pháp lý để phân biệt với “đại hay trung công nghiệp”. Khái niệm này làm cơ sở cho việc thi hành các chính sách riêng cho khu vực “tiểu công nghiệp”.
Mỗi quốc gia, trong các thời kỳ khác nhau, có chính sách khác nhau trong ưu tiên về tín dụng, nguyên liệu, cố vấn kỹ thuật, trên cơ sở yêu cầu phát triển KT-XH khác nhau, vì thế khái niệm về Tiểu công nghiệp cũng khác nhau. Vì để có một khái niệm “tiểu công nghiệp” dùng chung cho các nước là rất khó nên người ta dùng một loại khái niệm nêu bật các đặc điểm cơ bản về số lượng, chức năng, tính chất, cơ cấu. của doanh nghiệp với 4 đặc trưng sau: - Sự chuyên môn hóa ở mức độ thấp về quản lý và lãnh đạo xí nghiệp; - Vai trò cá nhân chủ xí nghiệp về những mối liên hệ tiếp xúc chặt chẽ với khách hàng, tính mềm giẻo trong sản xuất hoặc giao dịch, quan hệ chủ với thợ; tính linh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp; - Những điểm mạnh, điểm yếu về phương diện vốn và tín dụng như: khó vay vốn ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bà con hay bạn bè để thành lập, phát triển sản xuất; - Tính chất đa dạng của sản xuất TTCN cần áp dụng mềm dẻo các biện pháp, chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt. * Về thủ công nghiệp: người ta vẫn coi là một thành phần, một dạng đa thức, một loại “tiểu công nghiệp”.
Hai loại định nghĩa về tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp bổ sung cho nhau, nhưng không thể sử dụng toàn cầu. Để nghiên cứu sâu các vấn đề về tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, chúng ta cần có một mốc chuẩn nào đó [23]. 10 Ở Việt Nam, khái niệm “thủ công nghiệp” hay nghề thủ công được hiểu là một hình thức công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay, để chế biến nguyên liệu ra sản xuất ra sản phẩm. Hình thức nguyên thủy là sự tác động của tay hoặc chân người lao động lên đối tượng lao động thông qua công cụ lao động.
Đặc trưng của thủ công nghiệp là công cụ cầm tay hay cải tiến. Về chỉ tiêu độ phức tạp của quản lý có 05 yếu tố: quy mô vốn sản xuất kinh doanh, doanh thu và thu nhập khác, đầu mối quản lý, trình độ công nghệ sản xuất (cao, trung bình, thấp), lao động sử dụng. Căn cứ vào 08 yếu tố quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2005/TTLT:Bộ LĐTB&XH và Bộ Tài chính, để phân hạng DNNN hoạt động theo Luật doanh nghiệp và vận dụng để xếp hạng doanh nghiệp ở các TPKT khác: - DNNN được phân ra 5 hạng: Tổng công ty đặc biệt và tương đương; Tổng công ty và tương đương; đối với Công ty được xếp thành 03 hạng: từ hạng I đến hạng III với quy mô nhỏ dần. - Việc xếp hạng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như: phận loại, chọn chỉ tiêu, xác định tỷ trọng và cho điểm dựa theo ngành kinh tế - kỹ thuật, đảm bảo tương quan hợp lý trong xếp hạng.
- Theo đó quy mô các doanh nghiệp hạng III, doanh nghiệp thành lập theo Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân tương ứng với quy mô xí nghiệp trung, tiểu ở một số nước khác nhau trên thế giới [1]. Như vậy, định nghĩa tiểu công nghiêp được đề cập ở trên và theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đó là DNNVV, là các cơ sở SXKD độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người và là doanh nghiệp được xếp hạng III tùy theo ngành nghề. Điểm xếp hạng, danh giới giữa doanh nghiệp hạng III với các hạng khác quy định theo đặc điểm của các ngành đó. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì “thủ công nghiệp” là hình thức sản xuất sử dụng công cụ cầm tay, các phương pháp thủ công để tác động trực tiếp lên đối tượng lao động.
Đặc trưng kỹ thuật của thủ công nghiệp là công 11 cụ cầm tay thô sơ hoặc cải tiến. Trong lao động thủ công, con người làm cả chức năng phát lực, truyền lực và điều khiển công cụ. Như vậy, thủ công nghiệp là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệp dựa trên quy mô nhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léo của bàn tay người thợ thủ công. Hiện nay, khi KH – CN đã có những phát triển vượt bậc, cách hiểu về khái niệm “thủ công nghiệp” có những nội dung thay đổi, người thợ thủ công đã sử dụng máy móc để phát lực, truyền lực kết hợp với sự khéo léo của đôi bàn tay để tạo ra các sản phẩm thủ công độc đáo, tinh xảo và có giá trị kinh tế cao.
Sự khác biệt cơ bản giữa thủ công nghiệp và đại công nghiệp chính là việc điều khiển công cụ lao động được thực hiện dựa vào sự khéo léo của bàn tay con người và sự PCLĐ được tiến hành một cách chủ quan dựa vào năng lực của người công nhân [21]. Từ trước tới nay, ở Việt Nam không có sự phân định rõ ràng giữa thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp; hai khái niệm này thường được dùng ghép với nhau như một thuật ngữ không tách biệt. Xét về nguồn gốc ra đời, các tổ chức sản xuất TTCN của nước ta được hính thành theo 3 cách: Thứ nhất: tổ chức những người thợ thủ công cá thể vào làm ăn tập thể, hình thành các HTX TTCN, các HTX TTCN ở đây thường được hiểu là HTX chỉ sở hữu tập thể còn TTCN chỉ trình độ kỹ thuật của sản xuất. Thứ hai: thông qua con đường cải tạo XHCN đối với các xí nghiệp tư bản tư doanh, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh.
Thứ ba: các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tỉnh hoặc huyện hoặc của các đoàn thể, của tổ chức các hội nghề nghiệp hình thành thông qua việc đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới. Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là một lĩnh vực sản xuất có quan hệ với sản xuất công nghiệp, TTCN được coi là một lĩnh vực vừa độc lập, vừa phụ thuộc với công nghiệp. Xét về trình độ kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất, thì TTCN chính là hình thức phát triển sơ khai của công nghiệp. Trong quá trình phát triển lịch sử, ngành công nghiệp đã trải qua hình thái tiểu thủ công nghiệp.
12 TTCN phát sinh và phát triển cùng con người và xã hội loài người ở các xã hội tiền tư bản cái gọi là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đảm bảo toàn bộ các sản phẩm lao động và tiêu dùng của con người, trừ các sản phẩm nông nghiệp. Với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại ngày nay thì tiểu thủ công nghiệp cần được xác định rõ ràng hơn. - Thủ công nghiệp: Về mặt sản xuất thủ công nghiệp là hình thái phát triển của công cụ lao động từ thô sơ bằng tay đến cơ khí kế hợp máy móc hiện đại, năng suất lao động ngày càng cao, sản xuất nhiều hàng hoá. Về mặt quan hệ sản xuất đó là sự phát triển từ quan hệ thợ ban, phường hội tới quan hệ chủ xưởng và nhân công làm thuê.
- Tiểu công nghiệp: Như tên gọi của nó, tiểu công nghiệp chỉ những đơnvị sản xuất công nghiệp với quy mô nhỏ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp khó tách biệt với nhau. Tiểu công nghiệp là hình thức phát triển cao hơn của thủ công nghiệp trong điều kiện phát triển công nghiệp ngày nay. * Khái niệm: “Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) bao gồm toàn bộ cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ được tiến hành bằng các kỹ thuật thủ công kết hợp với máy móc cơ khí, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến hành sản xuất ở nông thôn, ở các làng nghề, thị trấn thị tứ và đô thị” 1. Các hình thức sản xuất tiểu thủ công nghiệp Trước thời kỳ đổi mới, các làng nghề truyền thống nước ta có ba mô hình tổ chức sản xuất: tổ sản xuất, HTX cung tiêu sản xuất và HTX sản xuất.
Sau thời kỳ đổi mới, đã phát triển thêm một số mô hình mới: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, tổ hợp tác, HTX mới, hộ cá thể. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN, các mô hình tổ chức sản xuất phù hợp sẽ thúc đẩy TTCN phát triển, đạt được nhiều thành tựu mới. Cho đến nay có một số hình thức sản xuất tiểu thủ công nghiệp sau: Một là, sản xuất tiểu thủ công nghiệp hộ gia đình: Đây là hình thức tổ chức sản xuất cổ truyền, rất phổ biến trong nghề TCN ở các làng nghề. TLSX của xưởng thủ công là đồng sở hữu các thành 13 viên trong gia đình.
Các thành viên trong gia đình lao động không phải lấy tiền công mà góp chung vào kết quả sản xuất của cơ sở sản xuất. Gia đình tự tổ chức lao động. Chủ hộ đồng thời là người quản lý, người thợ cả quyết định việc SXKD và tài chính của cơ sở sản xuất. Mô hình sản xuất này có nhiều ưu điểm gọn nhẹ, NSLĐ cao, bảo tồn công nghệ cổ truyền, tiết kiệm chi phí quản lý, tận dụng lao động, sản phẩm có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao.
Mô hình này cũng có một số nhược điểm như tài chính, thị trường, cải tiến công cụ và đổi mới công nghệ còn hạn chế. Kinh nghiệm ở các nước CN phát triển, TCN gia đình có thể duy trì, trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật và công nghệ hiện đại để cải biến chính nghề thủ công của mình, quan hệ bổ trợ, liên kết với CN hiện đại [24]. Hai là, tổ sản xuất: Đây là một hình thức liên kết sản xuất có tính hiệp tác của một số thợ thủ công hoặc một số hộ gia đình sản xuất TCN, SXKD một sản phẩm nào đó. Mô hình hoạt động theo nguyên tắc khách quan, tự nguyện và cùng có lợi.
Sự hợp tác này có thể thực hiện ở tất cả các khâu hoặc một khâu nào đó trong việc sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm; hoặc chỉ một khâu tiêu thụ sản phẩm, bán thành phẩm hay việc thu mua nguyên vật liệu, vật tư trên thị trường.