Chương I. Tông quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Thục trạng phát triển làng nghề ở Quận Bắc Từ Liêm, Thành phó Hà Nội.
Chương 4: Một s6 phương hướng và giải pháp chủ yêu nhằm phát triển làng nghề ở Quận Bắc Từ Liêm, Thành phó Hà Nội trong thời gian tới. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHÁT TRIEN LANG NGHE 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ trước tới nay, các công trình, các tác phâm nghiên cứu về đề tài Phát triển làng nghề Việt Nam nói chung và của một số địa phương mang tính chất chuyên khảo đã rất phong phú và có hệ thống. Các làng nghề thủ công ở ven thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện tại được Mai Thế Hon trong luận án Tiến sĩ kinh tế: “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội”, lại phân tích rat cụ thé về những đặc điểm của các làng nghề truyền thống vùng ven đô và vai trò, tiềm năng, xu hướng phát triển, đồng thời trên cơ sở đánh giá hiện trạng sản xuất kinh doanh của các làng nghề truyền thống ven thủ đô Hà Nội, tác giả đưa ra nhiều giải pháp khá thiết thực dé thúc đây các làng nghề truyền thống này trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vẫn đề phát triển làng nghề ở Quận Bắc Từ Liêm đã được một số tác giả đề cập qua các tác phẩm: Các tác giả Trần Quốc Vượng, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Văn Lan với tác phâm “Tìm hiểu di sản văn hoá dân gian Hà nội” (NXB Hà nội, 1994) cho biết một số nghành nghé thủ công ở Từ Liêm như làm liềm seo giấy và bánh mứt kẹo ở Xuân Đỉnh, nghề dệt ở Đại Mỗ, nghề mây tre đan ở làng Vẽ (Đông Ngạc), nghề dệt và rèn ở Hoè Thị (Xuân Phương), nghề mộc ở Văn Trì (Minh Khai) và thêu ở Đức Diễn.
Bên cạnh đó nghề rèn ở Xuân Phương cũng được tác giả Bùi Văn Vượng cung cấp khá chi tiết trong cuốn “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (NXB Văn hoá dân tộc, 1998). + Luận án của tác giả Bạch Thị Lan Anh (2011): “Phát triển bên vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”. Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Trên cơ sở đó, tac giả đề xuất những định hướng, giải pháp chủ yếu đây mạnh phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Tác giả Đỗ Thinh đã tìm hiểu sâu hơn về các làng nghề thủ công tryền thống ở Huyện Từ Liêm với hai tác phẩm “Người vùng ven Thăng Long” và “Pia chi vùng ven Thăng Long”, NXB Văn hoá thông tin Ha Nội. Theo Tác giả, Từ Liêm là một vùng đất của “Những con người với đôi bàn tay khéo léo đã làm ra những đặc sản và những sản phẩm thủ công tinh xảo và những dia danh Mỗ, La, Canh, Cot, Kẻ, Vẽ, Gian. Ngoài ra, những bài viết trên các báo và tạp chí như “Nhân dân”, “Tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp”, “Nghiên cứu kinh tế ”, “Thủ đô Hà Nội”, Hà Nội mới. “Thời mới” đã đề cập đến Từ Liêm tình hình phát triển các ngành nghề Từ Liêm nói chung và Phát triển làng nghề Quận Bắc Từ Liêm nói riêng.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã được công bố nêu trên đều không mang tính chất chuyên khảo có hệ thống về Phát triển Làng nghề Quận Bắc Từ Liêm, mà chỉ là những tư liệu tản mạn và chưa đầy đủ. Do đó, một công trình nghiên cứu tổng quát, cụ thể về Phát triển làng nghê ở Quận Bắc Từ Liêm đề tìm hiểu thực trạng, đưa ra giải pháp phát triển khu vực kinh tế này là rất cần thiết. Lý luận chung về làng nghề và phát triển làng nghề. Khái niệm và phân loại làng nghề.
Một số quan niệm về làng nghệ và làng nghề truyền thong, phát triển làng nghé. Nghề truyền thống: Nghề truyền thông là một phạm trù dùng để chỉ những nghề đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu đời, được tập trung sản xuất tại một vùng hay một làng, các sản phẩm được làm ra đã nôi tiếng trong vùng, trong nước biết đến và được nhiều lớp nghệ nhân, thợ thủ công đã được rèn rũa tay nghề qua nhiều đời và thế hệ thực hiện. Đặc trưng cơ bản nhất của nghề truyền thống là có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Mỗi nghề bao giờ cũng có ông tô của nghề, được dân làng ghi công và thờ phụng từ đời này sang đời khác.
Nghề truyền thông ở nước ta rất phong phú đa dạng, có những nghề đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong nước và thế giới, ví dụ như: Nghề gốm sứ Bát Tràng, Hưng Yên. nghề dệt tơ lụa Vạn Phúc, Hà Đông. nghề dệt chiếu cói Nga Sơn, Thanh Hoá, nghề làm bánh mứt kẹo, Xuân Dinh). Những nghề truyền thống được truyền bá trong phạm vi từng làng.
Trong những làng có nghề truyền thống thì đa số người dân biết làm nghề đó, ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác nhưng những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nghề truyền thống. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, việc sản xuất các sản phâm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với những vật liệu mới. Vì vậy, khái niệm nghề truyền thong cting được mở rộng hon. Khái niệm nay có thé được hiểu: Nghề truyền thong bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tôn tại đến ngày nay kế cả những nghề đã được cải tiễn hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại đề hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hoá đặc sốc cua dân tộc.
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là một cộng đồng dân cư sinh sống trong một làng, hoặc khu vực dân cư) có hoạt động sản xuất kinh doanh tại các hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất trong làng, có sử dụng các nguyên liệu trong và ngoài địa phương, phát triển đến mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng. Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghé cổ truyền làm thủ công, nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công. Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá họ chuyên sang sản xuất hàng thủ công ngay tại làng. Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, có quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời có sự liên kết hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo kiểu phường hội và có cùng tô nghé.
Quan niệm thứ tư: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thé về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề néng. Quan niệm thứ năm: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho một nghề thủ công và lay đó làm nghé sinh sống chủ yếu. Từ các quan niệm trên cho thấy, “làng nghề” là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn gan liền với hai yếu t6 "làng" và "nghề". Làng là khối dan cư ở nông thôn tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt.
Phần lớn các làng xưa kia đều là nơi sản xuất nông nghiệp. Sau đó, do yêu cầu cuộc sống đòi hỏi ngảy càng nhiều sản phẩm hơn vì vậy một số nghề phi nông nghiệp đã xuất hiện, có các hộ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề hoặc có hộ tách khỏi nông nghiệp dé chuyên sản xuất nghề. Dần dần, nghề phi nông nghiệp đã chiếm ưu thế. Phần lớn các nghề trong làng nghề thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp.
Ngày nay, do sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ, các cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, vì vậy, nghề nghiệp được mở rộng sang cả lĩnh vực buôn bán. Như vậy, yếu tố "nghề" trong làng nghề không nên hiểu là tất cả các nghề tạo ra thu nhập, tạo việc làm nói chung mà "nghề" ở đây phải là những nghề phi nông nghiệp. Từ cách tiếp cận trên, có thé rút ra khái niệm làng nghề như sau: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm wu thế về số hộ, số lao động và ty trọng thu nhập so với nghề nông. Làng nghề truyền thống: Khái niệm làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm “làng nghề” và “nghề truyền thống”.
Như vậy, làng nghề truyền thống trước hết là những làng nghề đã tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghé, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong làng nghề truyền thống những người thợ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc. Sản phẩm được nhiều thế hệ sản xuất ra có giá trị, có tính đặc thù riêng, nỗi tiếng ở địa phương và nhiều nơi biết đến. Trong các làng nghé truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề truyền thống hoặc một vai dòng họ chuyên làm nghé theo kiểu cha truyền con nối.
Song, sự truyền nghề không phải là sự sao chép, mỗi làng nghề, mỗi thợ thủ công khi tiếp thu nghề đều có những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của người khác, làng khác. Phát triển làng nghề: Phát triển làng nghề có thé được hiểu đó là sự củng có, duy trì, hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề hiện có, tạo điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích thúc đây sự ra đời của các làng nghề mới.