Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội ở Việt Nam. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng hoạt động cua Ngan hàng Chính sách Xã hội tinh Hà Giang giai đoạn 2009-2013. Chương 4 Định hướng và giải pháp chủ yếu nham nâng cao năng lực hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Hà Giang đến năm 2020.CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUÁ HOAT DONG CUA NGAN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1.
NHUNG VAN DE CHUNG VE NGAN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm Ngân hàng chính sách xã hội: Trong quá trình hình thành và phát triển của kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật thị trường mà đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, sự phân hóa giữa những chủ thé sản xuất kinh doanh ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc. Những chủ thể sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ thường xuyên nằm trong tình trạng thiếu vốn để sản xuất kinh doanh, song do năng lực tài chính hạn hẹp, hoạt động lại chứa nhiều rủi ro, nên rất khó tiếp cận tới các nguôn vốn tin dụng của các ngân hàng thương mai.
Ở nước ta, trong quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đây mạnh phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Trên cơ sở nhận thức rõ những khó khăn của đại bộ phận nhân dân, đặc biệt là nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa, lực lượng chủ yếu của cách mạng qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước đã không ngừng nghiên cứu tìm tòi các biện pháp và công cụ phù hợp nhằm tạo thuận lợi cho họ trong sản xuất kinh doanh và đời sống. Nhăm giảm bớt những khó khăn về vốn của người nghèo trong điều kiện các ngân hàng thương mại khó có thể cung cấp tín dụng cho họ, Nhà nước ta đã quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội. Từ đó, có thé hiểu Ngân hàng Chính sách xã hội là hình thức tô chức tín dụng đặc biệt trong nên kinh tế thị trường, do Nhà nước thành lập, có mục tiêu hoạt động chủ yếu không phải là lợi nhuận, mà là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho người nghèo và một số đối tượng chính sách khác phát huy năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo thông qua thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách.
Bản chất và đặc điểm của Ngân hàng Chính sách xã hội Xét về Bản chất kinh tế - xã hội: Ngân hàng Chính sách xã hội là công cụ được Đảng và Nhà nước sử dụng dé thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghéo, thực hiện an sinh xã hội; củng có quan hệ gắn bó giữa Dang và Nhà nước với dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. NHCSXH về thực chất là một tô chức tải chính của Nhà nước, là công cụ thực hiện vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng phương pháp tín dụng trong hoạt động hỗ trợ tài chính cho hộ nghẻo vả các đối tượng chính sách khác để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm. Bản chất của NHCSXH được thé hiện cụ thé thông qua các đặc điểm chủ yếu của NHCSXH: Đặc điểm về quan hệ sở hữu: - Nguồn vốn hoạt động của NHCSXH được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước với vốn điều lệ ban đầu là 5 nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung cho phù hợp với yêu cầu từng thời kỳ. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là cơ sở bảo đảm cho NHCSXH hoạt động bình thường vì mục tiêu xã hội.
- Bên cạnh đó với tư cách là một ngân hàng, NHCSXH có thể huy động vốn từ xã hội bằng các hình thức: phát hành chứng chỉ có giá, huy động tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn (và qua đó mà cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng). Phan lãi suất chênh lệch giữa huy động và cho vay sẽ được cấp bu bởi ngân sách nhà nước. - Ngoài ra NHCSXH có thé tiếp nhận các dự án tài trợ không hoàn lại hay vay nợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ của các nước. Như vậy đây là điểm khác biệt giữa ngân hàng CSXH và ngân hàng thương mại, nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thương mại chủ yếu hình thành từ việc huy động trên thị trường để cho vay.
Đặc điểm về quan hệ tổ chức quản lý: Ngân hàng chính sách xã hội là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước. Theo Quyết định số: 131/2002/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04 tháng 10 năm 2002 “Về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội”; Quyết định số: 180/2002/QD-TTg ngày 19 thang 12 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bang không phan trăm, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Theo Quyết định số: 16/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 01 năm 2003 “Về việc phê duyệt Điều lệ về tô chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội” và “Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Ngân hàng Chính sách xã hội có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước, là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, có tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Trụ sở chính đặt tại thủ đô Hà Nội.
Hệ thống tô chức của Ngân hàng Chính sách xã hội là co cau tô chức ba cấp, từ trung ương tới địa phương, bao gồm: 1. Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội; 2. Sở Giao dich, Trung tâm dao tạo, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh; 3. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp huyện, Phòng giao dịch thuộc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh.
Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tô chức của Hội sở chính, Sở Giao dịch, Trung tâm đảo tạo, Chi nhánh và Phòng giao dịch thực hiện theo quy định của Hội đồng quản trị. Cơ cấu tô chức bộ máy quản trị và điều hành của Hội sở chính: 1. Hội đồng quan tri và bộ máy g1úp viéc; 2. Ban Kiểm soát; 3.
Tổng Giám đốc và bộ máy giúp việc; 4. Hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Tổ chức bộ máy điều hành của Sở Giao dịch, Trung tâm đào tạo và các Chi nhánh bao gồm: 1. Giám đốc, các Phó giám đốc; 2.
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ; 3. Phòng Kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Phòng giao dịch đặt tại các huyện, quận, thành phố thuộc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh. Phòng giao dịch có con dấu, điều hành Phòng giao dịch là Giám đốc.
Đặc điểm về hoạt động: - Hoạt động của NHCSXH đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, chính phủ, cấp uỷ chính quyền các cấp. NHCSXH thực hiện cho vay theo chỉ định của Chính phủ dé thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội cho Hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Khi thực hiện các khoản cho vay theo chỉ định, vấn đề lợi nhuận không phải là mục tiêu mà ngân hàng nhắm đến, mà là thực thi chính sách tín dụng của Chính phủ. Thời hạn hoạt động của NHCSXH là 99 năm.
- NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước; thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán ngân quỹ, nghiệp vụ ngoại hối, phù hợp khả năng và điều kiện thực tế. NHCSXH được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý đối với các khoản cho vay theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. - Các chương trình tín dụng ưu đãi phải đảm bảo nguyên tắc cho vay có thu hồi nợ đúng hạn (cả gốc và lãi), vốn đầu tư phải mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực, vốn phải đến đúng địa chỉ người thụ hưởng. Chính sách tín dụng thể hiện trên một số ưu đãi về lãi suất và các điều kiện vay vốn, cụ thể như sau: + Lãi suất cho vay các chương trình tín dụng chính sách thấp hơn lãi suất các NHTM.
Mức lãi suất do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH, thống nhất một mức trong phạm VI Cả nước. + Người vay vốn không cần phải có người bảo lãnh hoặc tài sản thế chấp (trừ các khoản cho vay có mức vay trên 30 triệu đồng thuộc chương trình cho vay GQVL, chương trình hộ SXKD vùng khó khăn, chương trình cho vay thương nhân. + Thủ tục cho vay các chương trình rất đơn giản dé tạo điều kiện cho các đối tượng được thụ hưởng dễ tiếp cận với tín dụng chính sách. Người vay không phải trả bất cứ khoản chi phi nào cho ngân hàng ngoài nợ gốc và lãi tiền vay theo hợp đồng tín dụng hoặc khế ước nhận nợ.
+ Chính sách về xử ly nợ bị rủi ro: NHCSXH được trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng vào chi phí nghiệp vụ để bù đắp những khoản rủi ro do 10 nguyên nhân khách quan thuộc diện đơn lẻ, cục bộ. Mức trích được tính băng 0,02% trên số dư nợ bình quân năm và được tiến hành vào ngày 31/12 hàng năm tại Hội sở chính NHCSXH. Số dư nợ bình quân năm được tính như sau: Dư nợ cho vay = Du nợ cuối thang 1 +.