Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường tiểu học Cẩm Phả, Quảng Ninh.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương này tập trung vào việc hệ thống hóa các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động trải nghiệm trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới. Các khái niệm như quản lý nhà trường, hoạt động trải nghiệm, và quản lý hoạt động trải nghiệm được phân tích chi tiết. Ngoài ra, chương cũng đề cập đến mục tiêu, yêu cầu, nội dung, và các loại hình tổ chức hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu học. Vai trò của hiệu trưởng trong việc quản lý hoạt động này cũng được nhấn mạnh, cùng với các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quá trình quản lý.

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Phần này khái quát các nghiên cứu trên thế giới về hoạt động trải nghiệm, từ tư tưởng của Khổng Tử và Socrate đến các triết lý giáo dục hiện đại. Các nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học qua trải nghiệm trong việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Đồng thời, phần này cũng chỉ ra sự cần thiết của việc áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến vào chương trình giáo dục phổ thông mới tại Việt Nam.

1.2. Khái niệm cơ bản

Các khái niệm như quản lý, quản lý nhà trường, và hoạt động trải nghiệm được định nghĩa rõ ràng. Quản lý hoạt động trải nghiệm được hiểu là quá trình tổ chức, chỉ đạo, và kiểm soát các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Phần này cũng phân tích đặc điểm của hoạt động trải nghiệm tại trường tiểu học, bao gồm mục tiêu, nội dung, và các hình thức tổ chức.

II. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu học Cẩm Phả Quảng Ninh

Chương này đánh giá thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu họcCẩm Phả, Quảng Ninh. Các khảo sát được thực hiện trên 245 mẫu, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên, và phụ huynh. Kết quả cho thấy mặc dù các trường đã quan tâm đến hoạt động trải nghiệm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc lập kế hoạch, tổ chức, và đánh giá. Các yếu tố ảnh hưởng như cơ sở vật chất, tài chính, và nhận thức của giáo viên cũng được phân tích.

2.1. Khái quát về kinh tế xã hội và giáo dục tại Cẩm Phả

Phần này cung cấp bối cảnh kinh tế - xã hội và giáo dục tại Cẩm Phả, Quảng Ninh. Đây là cơ sở để hiểu rõ hơn về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu học trong khu vực. Các số liệu về số lượng học sinh, lớp học, và điều kiện cơ sở vật chất được trình bày chi tiết.

2.2. Thực trạng hoạt động trải nghiệm

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ thực hiện các nội dung, loại hình, và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm còn hạn chế. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động này cũng chưa đầy đủ. Phần này cũng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bao gồm thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các bên liên quan.

III. Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương này đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trải nghiệm tại các trường tiểu họcCẩm Phả, Quảng Ninh. Các biện pháp bao gồm bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên, kế hoạch hóa hoạt động trải nghiệm, và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá. Các biện pháp này được xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, đồng bộ, và khả thi.

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

Các biện pháp được đề xuất dựa trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục, tính kế thừa, đồng bộ, và khả thi. Phần này nhấn mạnh sự cần thiết của việc áp dụng các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của các trường tiểu học tại Cẩm Phả, Quảng Ninh.

3.2. Các biện pháp cụ thể

Sáu biện pháp cụ thể được đề xuất, bao gồm bồi dưỡng nhận thức, kế hoạch hóa hoạt động, và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá. Các biện pháp này nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm và đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Phần này cũng phân tích mối quan hệ giữa các biện pháp và tính khả thi của chúng.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường tiểu học thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trong lịch sử giáo dục thì tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại, và được dần dần phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới và được các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lý giáo dục của quốc gia. Các nhà giáo dục dựa trên quan điểm triết học về giáo dục của mình đã nghiên cứu về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác nhau: Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551- 479 TCN) đã nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm.

Cùng thời gian đó, ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp - Socrate (470-399 TCN) cũng nêu lên quan điểm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Đây được coi là những nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của “Giáo dục trải nghiệm” [dẫn theo 10]. Có rất nhiều nghiên cứu về “học tập trải nghiệm”, nổi bật có thể đề cập đến chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb. Để kinh nghiệm học tập được chính xác, theo ông, cần có một số điều kiện như người học phải sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực, có khả năng suy nghĩ về những gì trải nghiệm và sử dụng kỹ năng phân tích để khái quát hóa các kinh nghiệm có được cũng như phải có kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề để sử dụng những ý tưởng mới thu được từ trải nghiệm.

David Kolb đưa ra sáu đặc điểm chính của học từ trải nghiệm là: Học tốt nhất chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa mô hình lý thuyết với cuộc sống thực tiễn; Học là sự kết nối giữa con người với môi trường; Học là quá trình kiến tạo ra tri thức, là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân [dẫn theo 19]. 6 Bisson và Luckner thông qua nghiên cứu của mình đã thấy rằng trong và sau quá trình tham gia trải nghiệm, người học cảm thấy thích thú, thoải mái, tăng cảm xúc bản thân, giảm stress, giảm rào cản xã hội giữa các cá nhân và giảm sự ganh đua tiêu cực giữa học sinh giỏi và học sinh yếu. Jonh Deway là người đưa ra quan điểm “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Theo ông, quá trình sống và giáo dục không phải là hai quá trình mà là một, con người không ngừng thu lượm kinh nghiệm và cải tổ kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội.

Ở trong nước Từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. HĐTN là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở, làm thế nào để phối hợp với việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân. Rõ ràng “học và hành”, “lý luận kết hợp với thực tiễn” luôn là những nguyên lý giáo dục bền vững và được duy trì, phát triển.

Năm 2002, tại hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp quốc về phát triển bền vững, chương trình dạy và học vì một tương lai bền vững đã được UNESCO thông qua, trong đó, giáo dục trải nghiệm được giới thiệu sâu rộng trên cơ sở của bốn trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người [29]. Tác giả Đặng Thị Kim Thoa đã khẳng định: Trải nghiệm là phương thức học hiệu quả gắn với vận động, với thao tác vật thật và gắn với đời sống thực. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành, học từ trải nghiệm giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm. có ý nghĩa giáo dục cao nhất [29].

Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy 7 người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” [15]. Trong Báo cáo tại Hội thảo HĐTN cho học sinh phổ thông do Bộ GD&ĐT tổ chức (2015) có đề cập: HĐTN có nghĩa là tăng cường khả năng thực hành cho học sinh, học đi đôi với hành. Mỗi học sinh phải được hành động với kinh nghiệm cá nhân, đưa ra các sáng kiến trải trải nghiệm từ thực tế, không ngừng sáng tạo, nuôi dưỡng tính sáng tạo, ham học hỏi của bản thân. Hoạt động giáo dục trải nghiệm mang tính tích hợp nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục; đòi hỏi khả năng phối hợp liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, cuộc thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan học tập, sân khấu hóa (kịch, tiểu phẩm, thơ, hát,.) thể dục thể thao, câu lạc bộ, nghiên cứu khoa học kĩ thuật,. Các hoạt động này tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân, huy động sự tham gia của học sinh vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động. Học sinh được trình bày và lựa chọn ý tưởng, tham gia chuẩn bị, thiết kế hoạt động, trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, tự đánh giá, tự khẳng định. Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay, nhiều nghiên cứu tập trung vào triển khai định hướng giáo dục mới vào thực tiễn giáo dục và công tác quản lý ở các trường phổ thông hiện nay.

Điển hình là nghiên cứu của Đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường Tiểu học quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội" của tác giả Phạm Ngọc Quỳnh năm 2019. Tác giả quan niệm “Quản lý HĐTN của HS ở các trường tiểu học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ HĐTN của học sinh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các HĐTN, góp phần phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học”. Tuy nhiên, nghiên cứu với tiếp cận thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai trong thực tiễn giáo dục ở bậc tiểu học như HĐTN tại các trường 8 tiểu học Quảng Ninh thì chưa được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Tiểu học thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” nhằm góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục tiểu học nói chung, giáo dục Quảng Ninh nói chung.

Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường * Quản lý: Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận, lĩnh vực khác nhau. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lí nhằm đạt mục tiêu chung” [dẫn theo 5, tr 16]. Dương Hải Hưng và Trần Quốc Thành đã khái quát: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [dẫn theo 16, tr14]. Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau: - Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. - Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý.

* Quản lí nhà trường: Nhà trường là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường là một hoạt động xã hội, một thể đặc biệt của xã hội, nơi truyền bá những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người, nền văn hóa nhân loại cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Trường học là tế bào cơ sở chủ chốt của tất cả các cấp học 9 trong hệ thống giáo dục. Do đó quản lý trường học nhất thiết phải có tính nhà nước và tính xã hội.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20, tr11]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường hay nói rộng hơn là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy - học nhằm đưa nhà trường từ trường thái này sang trường thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [15, tr16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Hoạt Động Trải Nghiệm Theo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Tại Các Trường Tiểu Học Cẩm Phả, Quảng Ninh là một nghiên cứu chuyên sâu về việc quản lý hoạt động trải nghiệm trong bối cảnh áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường tiểu học ở Cẩm Phả, Quảng Ninh. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các phương pháp, thách thức và giải pháp trong việc tổ chức và quản lý hoạt động trải nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và những người quan tâm đến lĩnh vực giáo dục tiểu học.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môi trường giáo dục đa văn hóa cho giáo viên các trường tiểu học thành phố Bắc Kạn, nghiên cứu về việc nâng cao năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên trong môi trường đa văn hóa. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên ở các trường tiểu học thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai cũng là một tài liệu đáng chú ý, tập trung vào việc phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên tiểu học. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho giáo viên tiểu học cung cấp những phân tích sâu sắc về việc bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm, giúp giáo viên tiểu học nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về quản lý và tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giáo dục tiểu học.