Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Bước sang thế kỉ XXI, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, yếu tố con người trở nên có vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. GD&ĐT có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của đất nước.
Khái niệm “vốn con người” và “nguồn lực con người” xuất hiện ở Hoa Kỳ vào những năm cuối thập kỉ XX do nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor Schoults đưa ra, sau đó, thịnh hành trên thế giới. Nhà kinh tế học này đã phát triển tiếp nghiên cứu của mình và đã nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992. Vấn đề phát triển ĐNGV được ông giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực [7]. Nhà xã hội học người Mĩ, Leonard Nadle đã nghiên cứu và đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực, chỉ rõ mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực.
Theo ông, quản lý nguồn nhân lực có 3 nhiệm vụ chính là: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và môi trường nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu này đã được nhiều nước sử dụng. Đặc biệt, Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lý thuyết tổng thể về quản lý phát triển nguồn nhân lực [14]. Hiệp hội những người làm công tác đào tạo và phát triển Mĩ (ASTD) đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực (mô hình của McLag an).
Mô hình này được sử dụng trong các trường đại học và các chương trình đào tạo những người làm công tác 7 phát triển nguồn nhân lực tại Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới (Dooley et al, 2001; Dare and Leach, 1998; Leach, 1993; Powell and Hubschman, 1999; Rothwell and Lindholm, 1999) [34]. Trong bối cảnh ngày nay, vai trò của giáo dục ngày càng được coi trọng đối với mọi quốc gia. Tháng 4 năm 2000 tại diễn đàn thế giới tổ chức ở Dakar, Senegal, đại biểu của 160 nước và các tổ chức quốc tế có liên quan đã tái khẳng định cam kết, coi GDMN là một trong các mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Tháng 5 năm 2001, các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã tổ chức Hội thảo quan trọng với tiêu đề “Sự khởi đầu cho một nền GDMN vững mạnh”.
Theo tuyên ngôn này, các nước OECD đều thực hiện việc xây dựng chiến lược và chính sách trong GDMN. Chiến lược sẽ gắn chặt với điều kiện cụ thể của mỗi nước. Cũng từ năm 2001, với sự phối hợp của tổ chức OECD, UNESCO đã tiến hành dự án nghiên cứu, tổng kết chính sách GDMN của các nước. Dưới đây là tóm tắt chính sách phát triển giáo dục mầm non của một số nước, khu vực theo kết quả của dự án UNESCO: Củng cố chăm sóc - giáo dục mầm non của Chính phủ Thuỵ Điển: Từ năm 1980, chính phủ Thuỵ Điển ưu tiên các vấn đề liên quan tới trẻ nhỏ.
Chăm sóc, giáo dục mầm non được nhà nước hỗ trợ hoàn toàn, dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục và Khoa học. Chỉ đến những năm 90, kiểu trường mầm non ngoài công lập mới được hình thành, nhưng học phí không được thu cao. Theo quy định, học phí của cha mẹ phải trả không quá 3% tổng thu nhập của cha mẹ trẻ. Những quy định của Uỷ ban mới về GDMN là: Trường mầm non là trường tự nguyện, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền, thời gian học ba tiếng một ngày.
Trường mầm non do chính quyền địa phương quản lý. 8 Chính sách chăm sóc - giáo dục mầm non của các nước Indonexia, Thái Lan, Philippin: Luật hệ thống giáo dục quốc gia Indonexia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục của Thái Lan nhấn mạnh: Gia đình và chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế và quyền trẻ em. Chính phủ Philipin khuyến khích các chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thông qua việc thành lập mối liên hệ giữa cơ quan chính phủ và địa phương như Sở Giáo dục, Sở Y tế và Sở Phúc lợi xã hội.
Các nước này, GDMN đều được tổ chức cả ở hệ chính quy và không chính quy, đa dạng các cơ sở dịch vụ. Các cơ sở này được sự quản lý, hỗ trợ từ các Bộ: Bộ Giáo dục, Sở Y tế và Sở Phúc lợi xã hội. Tóm lại, chính sách phát triển GDMN ở một số nước phát triển và đang phát triển cho thấy có những quan điểm chỉ đạo phát triển GDMN chung là: Nhà nước đầu tư cho GDMN, cụ thể là đầu tư của nhà nước, kết hợp các nguồn khác (từ tổ chức chính phủ) tập trung cho vùng nghèo, vùng khó khăn để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo sự công bằng cho mọi trẻ em. Các nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Lộc trong bài viết: “Một số vấn đề lí luận về phát triển nguồn nhân lực” (2010) đã nêu lên một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, khẳng định vai trò quyết định của nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Theo đó, phát triển nguồn nhân lực được xem xét dưới góc độ như đặc trưng của phát triển nguồn nhân lực, xác định chỉ số phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực [24]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Bạch Mai trong nghiên cứu của mình về quản lý nguồn nhân lực đã nêu ra những vấn đề gây cấn, những chính sách, các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của nước ta từ những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia trên thế giới. Những vấn 9 đề này tuy đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực nhưng chỉ ở mức độ vĩ mô [25]. Ngoài ra, trong những năm qua đã có nhiều công trình trong nước nghiên cứu cơ bản về quản lý phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH như Đặng Quốc Bảo - Đỗ Quốc Anh - Đinh Thị Kim Thoa với tác phẩm “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV”, Nguyễn Thị Phương Hoa với tác phẩm “Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo GV”, Vũ Huy Chương với tác phẩm “Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành CNH - HĐH”, Phạm Thành Nghị với tác phẩm “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình CNH - HĐH đất nước”, Trần Khánh Đức với tác phẩm “Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI” (2010).
Các công trình nghiên cứu trên khẳng định vai trò của nguồn nhân lực nói chung và ĐNGV nói riêng trong phát triển kinh tế xã hội. Một số đề tài luận văn Thạc sĩ có liên quan đến đề tài: Bùi Hồng Mai, Quản lý đội ngũ giáo viên trường mầm non Việt Mỹ - thành phố Hà Nội, theo chuẩn nghề nghiệp. Phạm Thị Ngọc Hải, Đánh giá tác động của chính sách xã hội hoá giáo dục với giáo dục mầm non tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Đỗ Hoài Linh, Quản lý hoạt động dạy học cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non công lập quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Nguyễn Thanh Huyền, Phát triển đội ngũ giảng viên ở trung tâm giáo dục thể chất và thể thao - Đại học quốc gia Hà Nội theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, 2015. Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý đội ngũ giáo viên theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực đã đi đến kết luận khác nhau tuỳ thuộc vào cách tiếp cận và xuất phát điểm nghiên cứu. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các công trình trên còn hạn chế, chủ yếu xoay quanh vấn đề 10 nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên các trường công lập. Chính vì vậy, vẫn rất cần những nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên các trường mầm non tư thục quận Hoàng Mai nói riêng và các trường MNTT trên cả nước nói chung theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chứcmột cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [22]. Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn trong cuốn “Tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường” thì:“Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động trên cơ sở phát huy tốt nhất các tiềm lực vốn có và đảm bảo phát triển của tổ chức”[20].
Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [21]. 11 Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn trong cuốn “Tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường” thì:“Quản lý giáo dục là thực thi các chức năng tổ chức, quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục. Đó là sự tác động chủ động, có ý thức của chủ thể quản lý nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực của hệ thống giáo dục/cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm các hoạt động sư phạm đạt được các mục tiêu giáo dục với chất lượng, hiệu quả tối ưu”[20].